Chùa Ông Tề Chùa Ông Tề
Super User

Super User

Thứ bảy, 04 Tháng 11 2017 00:00

Bổn phận người Phật tử tại gia

Kính mời quý vị và các bạn trẻ cùng theo dõi câu chuyện hôm nay với tiêu đề “Bổn phận người Phật tử tại gia” với các bạn trẻ A,B,C.

Kính thưa quí vị

Tuổi trẻ, đến với đạo Phật với nhiều bỡ ngỡ như người lạc vào khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ nhưng lại khó tìm lối ra. Tiết mục “Tuổi trẻ với Phật pháp” đến với các bạn trẻ, đặc biệt là những bạn trẻ Phật tử VN ở hải ngoại, trưởng thành tại một nơi mà tiếng mẹ đẻ không được dùng trong sinh hoạt hằng ngày, để giúp nói đến những việc rất bình thường nhưng có thể “khó” với họ. Ngoài ra, “Tuổi trẻ với Phật pháp” sẽ giúp chúng ta cùng tìm hiểu và thực hành Phật pháp, hầu đạt được an lạc, hạnh phúc và thảnh thơi ngay trong cuộc sống trước mặt cho bản thân, gia đình và cho mọi người quanh ta. Kính mời quý vị và các bạn trẻ cùng theo dõi câu chuyện hôm nay với tiêu đề “Bổn phận người Phật tử tại gia” với các bạn trẻ A,B,C.

A: Xin chào các bạn! Người Phật tử là người con Phật, đi theo con đường của đức Phật, học sống theo giáo lý của Ngài, nhưng tại sao lại gọi là “người Phật tử tại gia” hả?

C: Gọi như vậy để phân biệt với người Phật tử xuất gia là quí vị Sa-di, Sa-di-ni, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, v.v… sống ở chùa, “ly gia cát ái” nghĩa là thoát ly khỏi sự ràng buộc của tình cảm gia đình đó.

A: Người Phật tử tại gia có phải còn được gọi là Ưu-bà-tắc (nam) và Ưu-bà-di (nữ) hay “cận sự nam”, “cận sự nữ” hay “thiện nam”, “tín nữ” nữa phải không?

B: Đúng rồi, nói tóm lại, là Phật tử chúng ta có “4 Chúng đồng tu” là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.

 

A: Vậy thì các bạn hãy cho biết bổn phận của những người Phật tử tại gia (PTTG) là gì ngay đi!

C: Bổn phận chính của người PTTG là sống đúng với Phật pháp, truyền bá Phật pháp đến mọi người để mọi người được an lạc.

B: Như vậy vấn đề là trước hết, người PTTG phải biết áp dụng Phật pháp vào đời sống hằng ngày để tự mình có sự an lạc, rồi mới đem an lạc cho người khác được, có phải không?

A: Phải rồi! Làm sao để gọi là sống đúng theo Phật pháp và có an lạc?

B: Trong Phẩm “Tịnh hạnh” của kinh Hoa Nghiêm, ngài Văn Thù có trả lời cho Phật tử tại gia, những vị Bồ-tát ở nhà, sống như thế nào gọi là sống đúng theo Phật pháp (sách do thầy Hằng Trường Việt dịch và giảng).

C: Có phải ngài Văn Thù dạy ta nhìn mọi sự vật, hiện tượng trong cuộc đời này bằng cặp mắt trí tuệ, hướng về chân lý chứ đừng nhìn với cái tâm hẹp hòi, cố chấp...?

B: Đúng rồi! Ngài có đưa ra hơn 10 lời dạy cho người PPTG sử dụng để sống đúng tinh thần Phật pháp trong những hoàn cảnh sinh hoạt bình thường ở gia đình.

A: Thật là hay quá, bạn hãy cho biết những lời dạy ấy đi!

B: Bài học thứ nhất là Ngài dạy: ở gia đình, người PTTG phải nhường nhịn (không tranh giành), phải bao dung với mọi người, nói năng nhỏ nhẹ, phải biết lắng nghe, chuyện qua rồi đừng có nhắc lại, đừng trách móc, tránh bàn luận chuyện đúng sai, hay dở của các thành viên trong gia đình; nên chia sẻ chân lý, truyền đạt những gì mình học được trong Phật pháp để mọi người biết làm những điều thiện lành tránh điều hung ác.

C: Có phải bài kệ thường nhắc nhở chúng ta mà hôm trước bạn đã nhắc đến hay không?

Bồ-tát ở nhà

nguyện rằng chúng sanh

biết nhà tánh Không

tránh mọi bức bách.

A: Tôi nhớ ra rồi! Nghĩa là mình yêu mến gia đình nhưng đừng quá tham luyến, quá khẩn trương để sinh ra đủ thứ stress - là “bức bách” - phải không?

B: Phải rồi, các bạn đã nhớ đúng rồi đó. Còn đối với cha mẹ thì hiếu thảo, chăm sóc nhưng cũng phải biết rằng đức Phật đã dạy: “Tất cả chúng sanh đều là cha mẹ của chúng ta trong bảy kiếp”; ý nói là thương yêu thờ phụng cha mẹ là hiếu, nhưng phải từ lòng hiếu đó lan rộng ra đến mọi người chứ không phải chỉ biết chăm lo cho cha mẹ mình mà xúc phạm đến cha mẹ người khác, hay vì lòng hiếu mà làm những chuyện sai trái tội lỗi v.v... thì đó lại là bất hiếu. Ngoài ra, phải biết cha mẹ cần mình nhất là những lúc già yếu, bệnh tật, xúc cảm, tuyệt vọng, hãy gần gũi họ, lắng nghe họ và chia sẻ kinh nghiệm tu học với họ. Các bạn còn nhớ bài kệ này chứ?

C: Ừ, nhớ! Bài kệ nhắc nhở chúng ta là:

Hiếu thảo cha mẹ,

Nguyện rằng chúng sanh

Khéo phụng sự Phật,

Chăm sóc hết thảy!

A: Tôi cũng nhớ bài kệ nói về gia đình nhỏ gồm vợ con nhưng 2 câu cuối chưa được thông suốt, các bạn hãy giảng nghĩa giùm nha:

Vợ con sum vầy,

Nguyện rằng chúng sanh

Oán thân bình đẳng

Vĩnh ly tham trước.

B: Đức Phật dạy: “Phải có duyên nợ với nhau trong nhiều đời nhiều kiếp mới thành vợ chồng”, vì vậy phải thương yêu giúp đỡ chia sẻ hạnh phúc hay đau khổ với nhau cho đúng đạo lý. Mặt khác, đừng yêu đương tham đắm quá mà sinh ra ích kỷ, rồi từ đó nghi kỵ, hiểu lầm, ghen tuông, ly dị v.v... kéo theo liền! Phải tập sống theo “trung đạo”-không thắt chặt quá, không thả lỏng quá-thì tình vợ chồng, con cái mới bền vững và dành cho nhau sự tự do đúng mức. Đó cũng là ý nghĩa mấy chữ “vĩnh ly tham trước” và “bình đẳng” đối với kẻ oán, người thân trong 2 câu cuối. Thế còn về “ngũ dục thất tình” các bạn có còn nhớ bài kệ nhắc nhở chúng ta như thế nào không?

A: Đó là:

Được hưởng ngũ dục,

Nguyện rằng chúng sanh

Nhổ mũi tên dục,

Cứu cánh yên ổn.

Nhưng tôi chưa nhớ ra ngũ dục là gì? Và tại sao gọi là “mũi tên dục”?

B: Ngũ dục là 5 “đối tượng” (object) của dục vọng: tiền tài vật chất, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống hưởng thụ, ngủ nghỉ (tài, sắc, danh, thực, thùy). Đặc tính của ngũ dục là khiến người ta nghiện ngập chìm đắm-các bạn đừng tưởng chỉ có rượu hay thuốc phiện mới làm người ta nghiện đâu nha-ngay cả danh vọng, địa vị, sắc đẹp cũng làm người ta say đắm và nhận chìm người ta được (“sắc bất ba đào dị nịch nhân” - có nghĩa là “sắc đẹp không có sóng nhưng nhận chìm người ta dễ dàng” đó!)

C: Bạn nói đúng quá! Ai đã nếm mùi ngũ dục thật khó mà buông xả. Cho dù bạn muốn tránh né, nó cũng vẫn còn gốc rễ nằm sâu trong đáy lòng, phải không? Hèn gì đức Phật nói “ngũ dục là gốc rễ của địa ngục đọa lạc” - giống như mũi tên độc đã ngấm vào da thịt, khó nhổ cho ra và dù nhổ ra được thì đau đớn biết bao nhiêu và chất độc đã ngấm vào cơ thể rồi!

A: Như vậy thì nguy rồi! Cuộc sống của người PTTG luôn có ngũ dục vây quanh, làm sao mà tránh đây các bạn

B: Thì mình phải giữ mình bằng cách “tiết chế” những ham muốn (to bound your desire, to limit) chứ đâu có làm sao hơn! Mình thực hành các hạnh sau đây: biết đủ (tri túc), tịch tĩnh, đạm bạc, buông xả, ít muốn (tránh hưởng thụ).

C: Tôi nghe quý thầy giảng rằng muốn tránh ngũ dục mình phải suy nghĩ như thế này: làm giàu để làm gì? Chết có đem theo được không? (để đối trị với “tài”)

Sắc đẹp làm mê đắm lòng người, có thể dẫn đến tội ác, phạm giới v.v... có đáng cho mình hy sinh mọi thứ để chạy theo “sắc” hay không?

Danh là thật hay là giả, là hình hay bóng? Chạy theo có phí thời gian không? (Tỉnh giấc mộng nồi kê chưa chín”)

Thực (ăn): bệnh là do miệng mà vào, tham thực cực thân, ăn vào dễ, nhả ra khó

Ngủ nghỉ (thùy): hưởng thụ sướng thân, sinh biếng nhác, ham vui, phóng dật; đến lúc giật mình thì thời gian không còn nữa, cái chết đến gần... có phải một đời hối hận không?

A: Thế còn đi xem văn nghệ, ca nhạc v.v... có phải là “ngũ dục” không

C: Cũng có bài kệ nói về ca nhạc tụ họp đó nha:

Ca nhạc tụ họp

Nguyện rằng chúng sanh

Vui với chân lý

Biết nhạc là giả.

B: Ca nhạc, thơ văn, hội hoạ v.v... nói chung là văn nghệ có tác dụng nuôi dưỡng tinh thần, tâm hồn con người, đặc biệt âm nhạc có sức mạnh thay đổi trạng thái tâm hồn của người nghe. Vẻ đẹp, cái hay, cái kỳ diệu của nhạc và thơ, không chỉ loài người mới có, thật là đa dạng và phong phú, trời cũng có nhạc nữa đấy (nhạc trời) và tiếng chim hót, tiếng suối reo, thông reo v.v... không phải cũng là những khúc nhạc làm êm dịu tâm hồn ta hay sao? Tuy nhiên, âm nhạc có thể cứu người mà cũng có thể hại người; cái chính là chúng ta luôn tỉnh giác để biết rằng tìm vui trong ca nhạc chỉ là tạm bợ, niềm vui chân chính, cứu cánh của an lạc phải là tìm vui nơi Chánh pháp, nơi chân lý.

C: Niềm vui nơi chân lý có phải là vui với Pháp, với sự chấm dứt của vọng tưởng, sự dừng lại của mọi ham muốn tham đắm hay không?

B: Phải đó!

A: Các bạn có muốn nghe câu chuyện về “Bài ca vô thanh” mà đức Phật đã kể ở một cõi trời không?

C: Muốn chứ, bạn hãy kể đi!

A: Có một vị Bồ-tát được mời lên một cung Trời thuyết pháp. Ngài yên lặng nhập định, chuẩn bị giảng kinh. Các Thiên nữ tán hoa, múa hát, nhạc Trời trổi lên ai nghe cũng thấy tâm thần nhẹ nhõm và hoàn toàn bị cuốn hút vào. Sau khi vị Bồ-tát thuyết pháp xong, vua Trời Đế Thích hỏi: “Thưa Ngài, Ngài là bậc đã du hành vô số cõi Trời, đã nghe vô số âm nhạc, phải chăng âm nhạc của chúng tôi ở đây là hay nhất?” Vị Bồ-tát chắp tay đáp rằng: “Thật hổ thẹn, xin Ngài thứ lỗi, theo thiển kiến, chẳng âm nhạc nào xuất sắc bằng bản nhạc của sự im lặng tuyệt đối, chẳng có bài hát nào du dương bằng âm điệu của chân lý, của Pháp!” Vua Trời bỗng nhiên tỉnh thức, học tập lắng nghe bài ca vô thanh.

B: Trên đây là những nhắc nhở chúng ta, những người PTTG về những sinh hoạt bình thường, làm sao để được an lạc và làm cho mọi người thân quanh mình được an lạc. Ngoài ra, về xử thế, chúng ta còn được dạy về “cách cho”, tức là bố thí nữa:

Cho ai vật gì

Nguyện rằng chúng sanh

Cho được mọi thứ

Lòng chẳng ái trước.

Nghĩa là đã cho thì nên thật lòng cho, không hối tiếc, không tính toán hay mong cầu được trả công vì “cho” là thành khẩn muốn làm vui lòng người, không phải là trao đổi, mua chuộc, nịnh bợ v.v... Cho-hay bố thí chính là phương pháp mở rộng lòng từ bi, đối trị bệnh ích kỷ, hà tiện, keo kiệt, tham lam v.v... Các bạn còn gì bổ sung không?

C: Tôi còn nhớ ngài Văn Thù còn dạy bài kệ này cho người PTTG:

Nếu bị ách nạn

Nguyện rằng chúng sanh

Tùy ý tự tại

Việc làm vô ngại!

Tôi có một thắc mắc là tại sao bị ách nạn là việc mình hoàn toàn bị động mà làm sao mình lại “tự tại”, “vô ngại” được hở các bạn?

B: Bạn thắc mắc đúng lắm! Gặp tai nạn, bị áp bức, khống chế, ép buộc, oan ức v.v... là những điều đâu có ai muốn xảy ra cho mình, tất nhiên là mình ở trong hoàn cảnh bị động và bất lực rồi, thế nhưng mình vẫn có thể “chủ động” trong cách tư duy (suy nghĩ, phản tỉnh) để không đi đến tình trạng khủng hoảng, tuyệt vọng, than thân trách phận, oán trời trách đất hay làm những việc điên rồ phải hối hận cả đời như tự tử hay giết người hay nuôi thù oán hằng chục năm v.v...

A: Tôi hiểu rồi! Nghĩa là khi gặp ách nạn, oan ức, mình nghĩ rằng đây là nghiệp nhân quá khứ của mình đã “chín” thành quả rồi-mình đã từng gây nhân hống hách, hiếp đáp người, gây khó khăn cho người, nói oan cho người, nên nay mình gặt quả bị mất tự do, tự tại, tự chủ. Bây giờ mình phải gây nhân lành gieo hạt giống thiện, từ bi hỷ xả để có thể gặt quả “tai qua nạn khỏi ách nạn tiêu trừ” phải không các bạn?

C: Phải rồi! Có còn gì nữa không, các bạn?

B: Còn chứ! Vừa rồi, chúng ta chỉ mới nói về bổn phận đối với bản thân mà chưa nói tới việc hộ trì Tam bảo.

A: Phải rồi, Phật có dạy Chúng xuất gia thì trụ trì ngôi nhà Phật giáo còn hàng Phật tử tại gia phải hộ trì (protect, sponsor) Tam bảo đó nha!

C: Cho một ví dụ cụ thể đi! Tôi thường nghe Tam bảo hộ trì mình, bảo vệ mình chứ đâu có nghe mình mà bảo vệ và hộ trì (sponsor) cho Tam bảo đâu anh!

B: Tam bảo hộ trì mình là hộ trì về tâm linh, về kinh điển, về Phật pháp, còn mình hộ trì Tam bảo là về vật chất, về phương tiện và chống lại “thú dữ” giữa cuộc đời làm hại chư Tăng, Ni… Tại bạn không nhớ đó thôi! Hồi Pháp nạn 1963, các chùa trên toàn quốc miền Nam Việt Nam bị lính tấn công vào đánh đập chư Tăng Ni và Phật tử, hồi đó Phật tử chùa nào tụ họp về chùa đó để bảo vệ chư Tăng, Ni... Người Phật tử, bao gồm GÐPT của anh chị em chúng ta, cũng có mặt với quý Thầy, quý Sư cô của mình trong cơn biến động đó. Hằng ngàn hàng vạn Tăng Ni, Phật tử đã bị bắt bớ giam cầm, có vị đã tự thiêu để cầu nguyện, có vị bị chết vì súng đạn đàn áp hay chết trong tù…

C: Hồi nãy chúng ta mới nói đến các pháp tu, nhưng chưa nói hết, chỉ mới nói đến Bố Thí tức là thực hành hạnh Từ Bi, các bạn nhớ không?

B: Nhớ chứ, thực hành Bố thí là thực hành 1 trong 4 nhiếp sự (Four Assistant Methods): Bố thí (Donation_ donation of Goods, of Dharma, of Encouragement), Ái ngữ (Friendly Speech), Lợi hành (Benificial Actions), Ðồng sự (Collaboration) - Những điều này chúng ta đã biết rồi.

A: Chúng ta cũng cần nhắc nhau rằng chúng ta không chỉ biết hộ trì Tam bảo lúc Chùa gặp nguy hiểm mà ngày thường cũng vậy, không những chúng ta hộ trì bảo vệ chư Tăng Ni mà chúng ta còn quan tâm những việc như xây cất tu bổ chùa, việc ăn ở của chư Tăng Ni, việc tổ chức tu học cho Phật tử, việc chi phí cho các đại lễ Phật Ðản, Vu Lan, Tết Nguyên đán v.v… cũng cần có tài chánh. Chúng ta cũng phải quan tâm đóng góp phần mình; bởi vì nếu không có Chùa, chúng ta làm sao “làm quen” với Tam bảo được, phải không?

C: Phải rồi, nhưng đó là việc của Ban hộ trì Tam bảo ở các Chùa phải không?

B: Đúng vậy; nhưng có nhiều Chùa nhỏ, ít chư Tăng, ít Thiện nam Tín nữ thì họ phải tự túc, nếu biết được, chúng ta cũng phải có bổn phận quan tâm hộ trì Tam bảo ở những nơi đó.

A: OK. Vậy cũng tạm đủ rồi. Nếu PTTG chúng ta làm được những điều như chúng ta vừa học tập và thảo luận trên đây thì cũng đủ đem lại hạnh phúc, an lạc cho bản thân, cho gia đình và cho mọi người quanh ta, đó cũng là cách hoằng dương Phật pháp một cách hữu hiệu nhất, phải không các bạn?

C: Phải rồi, vậy bài học hôm nay tạm đủ, xin tạm biệt nha!

A và B: Tạm biệt! Tạm biệt!

Nguồn: Tập San Pháp Luân 19

Quy y Tam bảo rồi, người Phật tử phải biết một số điều cần thiết để trợ duyên cho việc tu học của mình được phước huệ đầy đủ, sự lý viên dung.
1. Thờ Phật

    Là người Phật tử, trong nhà cần phải có một bàn thờ Phật để hằng ngày chiêm ngưỡng, quán tưởng và lễ bái. Nhìn tượng Phật, chúng ta nghĩ tưởng như Ngài đang hiện diện, nguyện noi gương Ngài để tinh tấn tu học. Bàn thờ nên bố trí nơi trang trọng nhất trong nhà. Nếu nhà rộng nên dành riêng một phòng làm nơi thờ Phật. Trên bàn thờ nên ton trí hình tượng của đức Phật Bổn sư Thích-ca Mâu-ni, không nên thờ hình tượng nhiều làm giảm sự trang nghiêm. Phật nào cũng có đầy đủ đức tính vô lượng thọ, vô lượng quang và vô lượng công đức. Cho nên, thờ một Phật là thờ tất cả Phật. Thực tế, không ai nhìn thấy đức Phật Thích-ca Mâu-ni, Phật A-di-đà. Khi chúng ta nghĩ Phật nào là Phật đó, vì mỗi đức Phật đều có đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp.

Trường hợp người tu theo pháp môn Tịnh độ vì tôn kính, ngưỡng mộ hình ảnh đức Phật A-di-đà, chúng ta có thể thờ, nhưng bố trí như thế nào để khi nhìn lên bàn thờ cân đối và đẹp. Nếu thờ hình Phật Thích-ca Mâu-ni, Phật A-di-đà thấy không cân đối, chúng ta nên thờ thêm đức Phật Dược Sư cho đủ ba vị. Phật Thích-ca Mâu-ni giáo chủ cõi Ta-bà, Phật A-di-đà giáo chủ cõi Cực lạc phương Tây, Phật Dược Sư giáo chủ cõi Tịnh độ phương Đông. Hoặc thờ Phật Thích-ca Mâu-ni, A-di-đà, Di Lặc.

Hình tượng thờ kích cỡ phải bằng nhau, không nên lớn nhỏ sai khác, không đặt hình trên dưới hoặc cao thấp. Bàn thờ Phật và bàn thờ ông bà phải thờ riêng. Trường hợp nhà không có chỗ, nên đặt bàn thờ Phật phía trên, bàn thờ ông bà phía dưới. Trên bàn thờ không nên để đồ vật khác ngoài bình bông, lư hương, ly nước, đèn và đĩa quả. Hằng ngày, chúng ta phải thay nước cúng, nước bình bông và lau chùi bàn thờ thật sạch, sáng tối phải thắp nhang. Mỗi lần thắp một cây hoặc nhiều lắm là ba cây. Tốt nhất nên mua nhang trầm đốt, dù một cây nhưng mùi thơm làm mình dễ chịu, tinh thần sảng khoái hơn là đốt nhiều những thứ nhang mạt cưa chỉ thêm khói bụi.

Người thờ Phật cả tháng không thắp nhang, không chăm sóc lau chùi bàn thờ, không có lợi ích trong việc tu tập. Chúng ta quan tâm đến bàn thờ Phật chính là quan tâm đến việc tu tập của mình. Mỗi khi thắp nhang, chúng ta chiêm ngưỡng Phật, nguyện noi gương Ngài để tu sửa thân tâm, không phải để cầu tài cầu lộc. Mỗi khi thắp nhang chúng ta cầu nguyện đức Phật gia hộ cho mình: “Có trí tuệ nhìn thấy rõ sự vô thường, vô ngã của nhân sinh; biết phân biệt đúng sai, phải trái, thật giả để không bị ngũ dục làm mê mờ. Có đầy đủ nghị lực để vượt qua khó khăn thử thách.

Có sức tinh tấn để thẳng tiến trên con đường tu học. Có tình thương vô ngã vị tha để san sẻ tinh thần vật chat cho mọi người. Có giới luật để thúc liễm thân tâm, trau dồi đạo đức, ba nghiệp trong sạch v.v...”. Hằng ngày, chúng ta thắp nhang trước bàn Phật, khấn nguyện như vậy sẽ có lợi ích rất lớn trong đời sống tu tập của mình.

 

 

 

 Người đã quy Tam bảo phải biết tôn kính tượng Phật. Khi đi chùa hoặc nơi có thờ hình tượng Phật phải cung kính xá chào, lễ bái, xem hình tượng Phật như là Ngài đang còn tại thế. Hiện nay, có rất nhiều hình Phật được in làm nhãn hiệu bao nhang, sau khi dùng xong, những người thiếu ý thức đã vất bỏ bừa bãi. Nếu gặp những bao nhang có hình Phật như vậy, chúng ta nên nhặt lấy và đem đốt. Những tượng Phật bị hư hỏng nên sửa chữa lại. Nếu không còn dùng được, chúng ta đem thả xuống sông, biển hoặc đào hầm chôn, không nên bỏ nơi bất tịnh.

 

2. Học giáo pháp của Phật

 

    Người quy y Tam bảo mà không học giáo pháp của Phật thì không biết được con đường mình đi. Như người đi đến một nơi nào đó, nếu không nắm rõ địa chỉ sẽ đi lạc. Muốn hiểu rõ Phật pháp, chúng ta phải đọc tụng kinh điển hoặc nghe quý thầy giảng pháp, hoặc dự học các lớp giáo lý do chùa tổ chức. Hiện nay, những bài giảng Phật pháp được ghi âm vào băng catssette, đĩa CD, VCD, DVD chúng ta nên thỉnh về xem, nghe. Điều quan trọng chúng ta cần lưu ý, người Phật tử phải biết cuộc đời của đức Phật, cũng như con phải biết tên cha, biết cuộc đời của cha, nếu không biết là một lỗi lầm lớn.

Do vậy, bước đầu học Phật, chúng ta phải tìm hiểu cuộc đời của Ngài. Để hiểu biết Phật pháp có căn bản từ thấp lên cao, chúng ta nên đọc bộ Phật Học Phổ Thông do Hòa thượng Thiện Hoa biên soạn, hoặc cuốn Đức Phật Và Phật Pháp của Narada do Phạm Kim Khánh dịch.

Đọc kỹ một trong hai bộ sách này, chúng ta có một số kiến thức Phật học cơ bản, tạm đủ làm hành trang tu tập. Mỗi ngày, chúng ta cố gắng để thời gian đọc kinh sách hoặc nghe băng giảng như một thói quen, như là bữa ăn hằng ngày. Nếu không đọc cảm thấy thiếu vắng, như tới bữa cơm không ăn cảm thấy đói vậy. Học Phật pháp giúp chúng ta sáng suốt thấy rõ thật tướng của vũ trụ nhân sinh. Học Phật pháp giúp chúng ta nhàm chán ngũ dục, xa lìa trần cấu. Học Phật pháp giúp chúng ta thêm nghị lực để vượt khó khăn thử thách.

Học Phật pháp giúp chúng ta tinh tấn đạt đến chỗ chân thiện mỹ, rốt ráo thành Phật. Học Phật pháp giúp chúng ta mở rộng lòng thương, vô ngã vị tha. Học Phật pháp giúp chúng ta có đạo đức, nhân cách cao thượng. Mỗi lần học là mỗi lần chúng ta thêm sáng trí, thêm tinh tấn, thêm vững niềm tin trên con đường tu học của mình. Do vậy, chúng ta phải thường xuyên trau dồi Phật pháp, thâm nhập kinh tạng, trí tuệ sẽ rộng lớn như biển.nguoiphattu.com

 

3. Thực hành Phật pháp

 

 Giáo pháp của Phật dù có tốt đẹp cao siêu đến đâu, nếu chúng ta không thực hành sẽ không được lợi ích thiết thực. Nếu quy y Tam bảo để có được pháp danh thôi thì chưa đủ. Có người đến chùa quy y một lần và khi thầy chết đến một lần nữa là coi như xong bổn phận.

Theo đúng nghĩa quy y Tam bảo là nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng để tu học, không phải quy y để lấy pháp danh, để Phật phù hộ hoặc để mọi người biết mình có quy y. Sau khi quy y Tam bảo, người nam gọi là Ưu-bà-tắc, người nữ gọi là Ưu-bà-di. Ưu-bà-tắc nghĩa là cận sự nam, người nam thân cận Tam bảo để học pháp, tu hành và phụng sự. Ưu-bà-di nghĩa là cận sự nữ, người nữ thân cận Tam bảo để học pháp, tu hành và phụng sự. Nếu vì hoàn cảnh xa chùa hoặc vì công việc làm ăn, chúng ta cũng phải cố gắng ít nhất mỗi tháng một lần về chùa sám hối, nghe giảng hoặc tu tập.

Nếu vì quá bận, một năm phải về chùa vào những ngày lễ lớn như Phật đản 15/04, Vu Lan 15/07 hoặc ngày tết cổ truyền để dự lễ, thăm viếng Bổn sư, học Phật pháp nhằm thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, tri ân báo ân của người con Phật. Nếu vì đường xá xa xôi cách trở không về chùa Bổn sư được thì có thể đến ngôi chùa gần nhà nhất để dự những ngày đại lễ.

Pháp của Phật vô lượng vô biên, chúng ta cần phải học hiểu và chọn cho mình một pháp môn thích hợp. Căn tính chúng sinh có cao thấp, trí, ngu, nhanh, chậm... Phật pháp cũng có nhiều môn nhằm thích hợp với căn tính của từng người tu tập. Ví như, bệnh có nhiều thì thuốc cũng có nhiều để đối trị.

Thuốc nào cũng để chữa khỏi bệnh, đem lại sức khỏe cho người. Pháp môn của Phật tuy nhiều nhưng cũng chỉ có một mục đích đem đến an lạc giải thoát cho chúng sinh. Học pháp thì nhiều nhưng tu tập chỉ nên chọn một pháp tu thích hợp với căn cơ của mình thì mới có kết quả. Như khi chúng ta học tiểu học, trung học thì học tổng hợp các môn, nhưng khi vào đại học phải học chuyên môn mới có thể ứng dụng trong đời sống. Người tu Tịnh độ tụng kinh A-di-đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ. Người tu thiền tụng kinh Kim Cang, Bát Nhã, Viên Giác, Lăng Già Tâm Ấn

Người tu Pháp Hoa tụng kinh Pháp Hoa... Tùy theo chúng ta tu pháp môn nào nên chuyên tụng kinh pháp môn đó sẽ có kết quả hơn. Mỗi ngày, sáng hoặc tối nên công phu tụng kinh, niệm Phật hoặc ngồi thiền. Cố gắng giữ thời khóa cho đều đặn. Có một câu Phật ngôn căn bản trong kinh Pháp Cú mà bất cứ người học Phật tu theo pháp môn nào cũng phải thực hành

 Trong khi tu tập, chúng ta không nên khởi tâm phân biệt khen pháp mình tu, chê pháp người khác tu, không nên vì quyền lợi cá nhân chê bai đả kích lẫn nhau. Tự mình chuốc họa, lại tiếp tay làm cho Phật pháp suy yếu.

 

4. Giữ gìn oai nghi

 

Phật tử là con Phật, con phải giống cha, chúng ta phải học tập tác phong, đạo đức của Phật. Khi chúng ta đến trường học, đầu tiên thầy cô giáo dạy chúng ta lễ phép trước rồi sau mới dạy chữ. Cho nên mới có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Người vào chùa xuất gia, năm năm đầu học oai nghi giới luật, năm năm sau mới học kinh, có thể nói là: “Tiên học luật, hậu học kinh”. Chính oai nghi giới luật giúp chúng ta thúc liễm thân tâm, hoàn thiện nhân cách. Do tầm quan trọng đó, cho nên người Phật tử phải học luật nghi. Những oai nghi cơ bản cần biết của người Phật tử là: chắp tay, xá chào, lễ lạy, đi, đứng, nằm, ngồi, nói, ăn...

      - Chắp tay: Chắp hai bàn tay mười ngón bằng nhau, khít lại, không so le, không bọng giữa, không xòe mười ngón ra. Vị trí chắp cổ bàn tay để trên chỗ lõm trước ngực, mười ngón tay hướng lên, không nên để cao tới cằm hoặc thấp ngang bụng, không quay bàn tay chìa ra phía trước.

      - Xá chào: Khi gặp quý thầy hoặc bạn đồng tu chúng ta chắp tay xá, đầu mình cúi xuống, kèm theo câu A-di-đà Phật.

      - Lễ lạy: Khi lạy Phật hoặc lạy chư Tăng, chúng ta đứng ngay thẳng, hai bàn chân khép hình chữ V, chắp hai tay đưa lên trán rồi lạy xuống. Hai bàn tay úp lại, khi đầu chạm đất ngửa hai bàn tay ra, đầu đặt giữa hai bàn tay, quay mười ngón về phía trước, hai bàn chân duỗi ra, mông đặt xuống sát gót chân (lưu ý: không để mông quá cao, mất thẩm mỹ). Hai tay, hai chân và đầu sát đất. Khi đứng dậy úp hai bàn tay lại, chống người đứng lên.

Người Phật tử khi đến chùa, lúc ra về phải chào thầy trụ trì, phải vào chánh điện lễ Phật. Đi đâu gặp tượng Phật hay gặp chư Tăng chúng ta phải cung kính xá chào.

Đi, đứng, ngồi, nằm chúng ta luôn ý tứ, giữ thân mình nghiêm chỉnh, khoan thai, nhẹ nhàng và đẹp. Như khi ngồi giữ lưng thẳng, không lắc chân, rung đùi; không ngồi chồm hổm, không ngồi chống chân lên ghế, những thế ngồi này không được đẹp. Khi nói chuyện nên nói nhỏ nhẹ, không nên nói cười lớn tiếng nhất là lúc lên chùa hoặc nơi giảng pháp, nơi trai đường, nơi ngủ nghỉ chúng ta phải giữ im lặng.

Khi đi dự lễ, đi chiêm bái các Thánh tích, chúng ta phải giữ gìn oai nghi của người Phật tử, không nên ồn ào chen lấn, không ăn uống thô tháo, xả rác bừa bãi, không nên đùa giỡn nói cười lớn tiếng. Khi đến chùa, giới nữ phải trang phục kín đáo, không mặc quần áo quá mỏng, màu sắc lòe loẹt, không mặc áo sát nách, hở cổ, hở bụng, váy ngắn. Nam không mặc áo thun, quần ngắn. Cần có áo tràng để khi đến chùa mặc cho trang nghiêm.

Không nên mặc áo tràng vào nhà vệ sinh. Lúc lên chánh điện lễ Phật, trên bàn thờ, lư hương có nhang rồi, chúng ta không nên thắp thêm, tâm thành Phật chứng không nhất thiết phải thắp nhang. Không được tự tay đánh chuông, mõ, trống, nếu chưa được phép của quý thầy. Khi cúng dường tiền hoặc phẩm vật đến chư Tăng, chúng ta nên đặt trên đĩa để trên bàn, không nên trao tay hoặc nhét vào túi. (Nên tìm xem đĩa VCD, DVD Oai Nghi Của Người Tu Phật Thất hướng dẫn kỹ hơn. Đĩa do chùa Hoằng Pháp sản xuất).

Đó là một số oai nghi mà người Phật tử cần phải biết. Hằng ngày, chúng ta giữ gìn oai nghi là chúng ta sống có chánh niệm, tỉnh giác. Thực hành thường xuyên thì đạo đức, nhân cách chúng ta sẽ hoàn thiện, cao thượng. Được như vậy, mới thật đúng nghĩa đệ tử Phật, noi theo gương hạnh Phật.

 

5. Ăn chay

 

Ăn chay là ăn các loại thực vật như rau, củ, quả, đậu... Người Phật tử vì lòng từ bi không nỡ ăn thịt chúng sinh. Trong vô lượng kiếp đến nay, ta và chúng sinh có mối quan hệ thân thiết với nhau. Ăn thịt chúng sinh cũng có nghĩa là ăn thịt người thân của mình. Chúng ta ăn để sống, không phải sống để ăn. Các loài thảo mộc cũng có đầy đủ chất dinh dưỡng nuôi sống thân thể chúng ta. Điển hình những vị xuất gia ở chùa (Bắc tông) suốt đời ăn chay mà vẫn khỏe mạnh hồng hào. Có người cho rằng ăn chay thiếu máu, ốm yếu xanh xao.

Chúng ta có thể đặt lại câu hỏi: “Người không ăn chay có ốm yếu xanh xao không?”. Thưa vẫn có. Vậy không thể kết luận người ăn chay là thiếu máu, là ốm yếu xanh xao. Có chăng là do chúng ta không biết ăn, cứ ăn rau luộc chấm nước tương thì làm sao không ốm yếu! Nếu chúng ta ăn đầy đủ chất dinh dưỡng thì vẫn mạnh khỏe hồng hào. Có người cho rằng ăn chay là mất sức, sinh bệnh. Vậy người không ăn chay có mất sức sinh bệnh không? Thưa vẫn có.

Không tin chúng ta đến bệnh viện hỏi xem, người không ăn chay hay người ăn chay nằm viện nhiều. Bệnh là do nghiệp của mỗi người, không phải là do ăn chay hay không ăn chay. Theo luật nhân quả, nếu bạn giết hại chúng sinh, làm chúng đau khổ thì quả báo bạn sẽ bị đau khổ, bệnh tật, giảm thọ và đền mạng. Nhân nào quả nấy rất rõ ràng.

      Ăn chay có những lợi ích như:

      - Nuôi dưỡng lòng từ bi, xem mạng sống của chúng sinh như mạng sống của mình, cũng có đầy đủ Phật tính. Ăn chay là thực hiện giới sát sinh một cách tốt nhất.

      - Gián tiếp khuyên người không sát sinh. Chúng ta ăn thịt thì mới có người giết thịt để bán. Nếu chúng ta ăn chay, sẽ không có người giết thịt bán.

      - Tránh nhiễm độc từ thú vật. Hiện tại, thú vật có rất nhiều thứ bệnh, chúng ta ăn vào sẽ hại đến sức khỏe. Hơn nữa, mỗi khi thú vật chết sẽ khởi tâm sân hận, chúng ta ăn vào cũng ảnh hưởng đến tâm sân hận. Thú vật có nhiều loại nặng về dâm dục, chúng ta ăn vào cũng ảnh hưởng đến dâm dục.

      - Góp phần hòa bình thế giới. Nguyên nhân sâu xa của chiến tranh là do nghiệp sát của chúng sinh từ vô thỉ kiếp đến nay. Chúng ta giết thú vật, mối thù này sẽ còn mãi mãi, khi đủ duyên gặp nhau sẽ chém giết lẫn nhau. Muốn chấm dứt chiến tranh, chúng ta phải chấm dứt sát sinh. Ăn chay là cách tốt nhất giúp chúng ta không sát sinh, góp phần hữu hiệu vào nền hòa bình thế giới. Chúng ta nên tập ăn chay một tháng hai ngày rồi bốn ngày, mười ngày, lâu ngày quen dần ăn trường chay. Nên cữ các thứ hôi nồng, kích thích dục vọng như: hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu...

 

6. Hoằng pháp lợi sinh

 

Người Phật tử hiểu biết và hưởng sự lợi ích an vui của việc tu học Phật pháp, phải có lòng thương đem truyền bá cho mọi người cùng hiểu, cùng hưởng lợi ích. Mình có một ngọn đèn sáng, đem mồi cho nhiều ngọn đèn khác cùng sáng thì ngọn đèn của mình càng sáng hơn, cuộc đời này sẽ bớt đi đêm tối. Còn rất nhiều người chưa được ánh sáng Phật pháp soi rọi, họ vẫn sống trong đêm tối vô minh, chưa tin nhân quả, chưa biết tội phước, bị tham sân si sai sử tạo biết bao nhiêu đau khổ cho mình và người. Nhiều người làm ác mà ta có sống tốt cũng không yên với họ được, vì cuộc đời này có mối tương quan mật thiết với nhau. Như thân thể của chúng ta có một cái mụn nhọt hoặc khối u, không chỉ đau chỗ đó mà nó ảnh hưởng đến toàn thân. Một xã hội nhiều người xấu ta cũng không yên.

Do vậy, chúng ta phải có trách nhiệm đem Phật pháp đến với mọi người. Họ sống có an vui hạnh phúc thì chúng ta cũng được an vui hạnh phúc. Có rất nhiều cách để đem Phật pháp đến cho mọi người, như:

      - Bản thân mình sống có đạo đức, an vui; lời nói từ ái, đi đứng nhẹ nhàng khoan thai, tỏa sự bình an tươi mát khiến người nhìn thấy cảm mến tu học theo.

      - Khuyến hóa cha mẹ, vợ chồng, con cháu tin nhân quả, tội phước, hiểu biết Phật pháp, quy y Tam bảo. Tạo điều kiện thuận lợi cho họ đến chùa hoặc tiếp cận Phật pháp qua băng giảng, sách vở, đĩa hình...

      - Trong cuộc sống ai cũng có bạn, chúng ta tìm cách đem Phật pháp đến với họ. Phải có tình thương của người mẹ đối với con nhỏ. Hình ảnh người mẹ đút cơm cho con ăn, con mải mê ham chơi không chịu ăn, mẹ phải đi theo năn nỉ, dụ dỗ con ăn. Mặc dù con ăn con no chứ không phải mẹ no, nhưng con có no thì mẹ mới yên. Chúng ta phải kiên nhẫn đem Phật pháp đến với mọi người, như người mẹ đút cơm cho con. Phải có tình thương như vậy mới có thể hoằng truyền Phật pháp được.

      - Góp tiền ấn tống kinh sách, băng giảng, đĩa hình đem tặng cho người chưa hiểu Phật pháp. Phát nguyện đem kinh sách đến tặng cho người ở vùng sâu, vùng xa, những nơi biên địa cuộc sống người dân còn rất nhiều khó khăn về kinh tế. Cả đời họ chỉ biết chén cơm manh áo, không biết gì đến Phật pháp, chúng ta cần phải quan tâm đến những người này nhiều hơn.

      - Phát nguyện khuyến hóa, hướng dẫn mười người tin hiểu, thực hành Phật pháp. Nên phát nguyện như vậy để làm động lực giúp chúng ta tinh tấn hoằng pháp lợi sinh. Nguyện một đời mình ít nhất cũng phải khuyến hóa được mười người biết tu học Phật pháp. Nếu ai cũng phát nguyện như vậy thì Phật pháp sẽ được phổ biến đến mọi người. Ai cũng tin nhân quả tội phước, biết tu hành thì cuộc đời này sẽ tốt đẹp biết bao.

 

7. Làm điều thiện

 

Phật tử ngoài công phu tu hành, trau dồi trí tuệ cần phải tu phước. Đức Phật là bậc đã tu hành đầy đủ phước huệ nên gọi là bậc Lưỡng Túc Tôn. Chúng ta muốn thành tựu Phật quả cũng phải đi theo con đường tu tập của Ngài. Trên thế gian này, con người có sự chênh lệch nhau về trí tuệ và thân tướng, như kẻ xấu người đẹp, kẻ sang người hèn, kẻ khổ đau người hạnh phúc, kẻ nghèo người giàu, kẻ ngu người trí v.v... đều do quả báo của mỗi người. Chúng ta muốn hiện đời và đời sau được hưởng quả báo tốt đẹp thì phải làm điều thiện. Thông thường, chúng ta nghĩ cạn cợt đem của cải cho người là mất. Thật sự, cho chính là còn, ăn xài mới là hết. Làm phước sẽ có phước, hưởng phước sẽ hết phước.

 

“Cho là còn, có mất đâu
Gieo nhân hái quả cũng thâu về mình”.

 

Khi chúng ta gieo một hạt lúa xuống đất, hạt giống sẽ hủy hoại để nảy mầm lên cây, sau đó ra bông kết hạt. Một hạt lúa mất đi, lên cây sinh ra hàng trăm hạt lúa khác. Nếu chúng ta gieo nhiều hạt thì kết quả sẽ thu được nhiều lúa hơn. Việc thiện dù nhỏ chúng ta cũng phải cố gắng làm. Như giọt nước nhỏ giọt lâu ngày cũng đầy lu. Những việc có lợi cho mình và người thì nên làm, còn những việc có lợi cho mình mà hại người thì không làm. Việc ác cũng thế, dù nhỏ chúng ta cũng không nên làm. Ví như lỗ nhỏ trên thuyền, nếu không kịp thời bịt kín sẽ nhận chìm cả con thuyền.

Tất cả của cải vật chất ở thế gian này, chúng ta sẽ bỏ lại hết khi nhắm mắt tắt hơi, chỉ đem theo mình tội và phước. Chúng ta phải có cái nhìn sáng suốt để chuẩn bị tư lương cho hiện tại và tương lai của mình tốt đẹp hơn. Đem của cải bố thí, giúp đỡ những người khốn khó là cách giữ của cải khôn khéo nhất, là gởi vào ngân hàng “nhân quả” bảo đảm nhất. Vua Hacsa ở Ấn Độ có câu nói rất hay: “Ngày xưa, khi góp nhặt những của cải này, trẫm lúc nào cũng áy náy, e sợ phải tìm cách cất giấu vào một nơi nào thật vững chãi kín đáo.

Ngày nay, do bố thí, trẫm đã có thể gửi gắm tất cả những thứ đó trên cánh đồng phước lành và trẫm coi như của cải ấy được giữ gìn mãi mãi”. Hơn nữa, người học Phật vì lòng từ bi thấy người khổ cũng như mình khổ, phải tìm cách cứu giúp họ. Làm sao cho mọi người bớt khổ, mọi người được an vui hạnh phúc, giải thoát khỏi sinh tử luân hồi là bản hoài của chư Phật và cũng là của người con Phật chúng ta. Mạng sống ngắn ngủi, của cải là giả tạm, chúng ta phải biết tận dụng thời gian, của cải để làm lợi ích cho người theo tinh thần vô ngã vị tha mà đức Phật đã dạy. Biết san sẻ của cải vật chất cho người khốn khó, chính là làm vơi đi tính ích kỷ, trừ diệt tâm keo kiệt bỏn sẻn, mở rộng lòng thương.

 

8. Không quy y ngoại đạo, tà giáo

 

Để trở thành người Phật tử, chúng ta phát nguyện trước Tam bảo: “Chúng con tên là: “.......................” xin suốt đời quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”. Khi quy y Tam bảo rồi, chúng ta không được quy y thiên thần, vì những vị này chưa ra khỏi Tam giới. Đức Phật đã đoạn tận lậu hoặc, ra khỏi Tam giới, phước trí viên mãn, đầy đủ pháp để chúng ta học tập, nương tựa tu hành. Ví như, chúng ta học tập dưới sự hướng dẫn của giáo sư tiến sĩ thì vững chắc hơn là thầy giáo cấp một mới ra trường. Đức Phật nói: “Những điều ta dạy chỉ là nắm lá trong tay, những điều ta biết như lá trong rừng”. Tam tạng kinh điển của Phật đã chứng minh trí tuệ của Ngài là siêu việt, là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Tam tạng kinh điển chỉ là nắm lá trong tay Phật, mà chúng ta học cả đời chưa hết. Chúng ta muốn học làm người, có pháp dạy làm người gọi là Nhân thừa. Chúng ta muốn học làm trời có pháp dạy làm trời gọi là Thiên thừa.

Chúng ta muốn học làm Thanh văn có pháp dạy làm Thanh văn gọi là Thanh văn thừa. Chúng ta muốn học làm Duyên giác có pháp dạy làm Duyên giác gọi là Duyên giác thừa. Chúng ta muốn học làm Bồ-tát có pháp dạy làm Bồ-tát gọi là Bồ-tát thừa. Chúng ta muốn học làm Phật có pháp dạy làm Phật gọi là Phật thừa. Phật pháp có đầy đủ như vậy, chúng ta học cả đời chưa hết, không cần phải nương tựa thiên thần để học.Người Phật tử phải có niềm tin chân chính nơi pháp của đức Phật, không nên tin mê. Đức Phật khuyên chúng ta hiểu thấu đáo vấn đề rồi hãy tin, ngay như những lời Ngài dạy, Ngài cũng khuyên chúng ta nên suy nghĩ kĩ, nếu khi thực hành có lợi ích an lạc cho mình thì nên tin. Khi chúng ta đã tin hiểu một cách vững chắc Phật pháp rồi thì không nên để những tà thuyết làm lung lay. Như nghe nói ông nọ bà kia linh thiêng cầu gì cũng được, chúng ta đến van xin thọ giáo để cầu tài cầu lộc.

Trên thế giới, từ xưa đến nay có một vài Tôn giáo dùng vũ lực cưỡng ép hoặc tình cảm, tiền bạc dụ dỗ người theo đạo. Người Phật tử phải nên cảnh giác với những Tôn giáo này để không bị dụ dỗ lừa gạt. Bởi lẽ, Tôn giáo mà dùng thủ đoạn để mua chuộc lôi kéo người của Tôn giáo khác theo mình đều có ý đồ không tốt. Ví như, người câu cá móc con tép ở lưỡi câu để nhử bắt những con cá lớn. Họ bỏ miếng mồi tiền bạc ra dụ dỗ chúng ta theo Tôn giáo họ, khi cá dính câu rồi thì sinh mạng chúng ta nằm trong tay họ, trở thành nô lệ, thành con cừu non để họ chăn dắt, sai sử.

Có những người vì mê tiền, mê tình đã phản bội lại lời phát nguyện quy y Tam bảo, phản bội lại lý tưởng mình tôn thờ, đánh mất lương tâm con người, dẹp bỏ bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà Tổ tiên để thờ một vị “thần” nào đó. Vì hưởng thụ tiền bạc của họ nên phải nghe lời, biến mình thành kẻ mất nhân tính. Nhân danh đấng giáo chủ, họ xúi dục chúng ta đi phá hoại, chém giết để truyền đạo, để mở mang nước “trời”. Một vài tôn giáo cuồng tín trên thế giới đã từng làm việc này. Chúng ta phải hết sức tỉnh thức để không bị tiền làm mê mờ lý trí.

Hiện nay, người trí thức theo Phật giáo ngày một nhiều, vì đạo Phật là đạo trí tuệ, khoa học không phải đạo mê tín. Người có lý trí, lương tâm không thể bỏ Phật pháp. Chỉ có người mê tiền, mê tình mới bỏ Phật pháp mà thôi.

Người quy y Tam bảo rồi, không quy y đồ chúng ngoại đạo. Chúng ta phải giữ vững lời nguyện này dù chết cũng không thay đổi. Không vì tiền, vì tình mà bỏ Phật pháp, bán rẻ lương tâm. Có những gia đình cha mẹ quy y Tam bảo, tin sâu Phật pháp, nhưng con lại bị tình cảm lôi cuốn theo ngoại đạo. Để tránh tình trạng đau lòng này xảy ra, bậc làm cha mẹ phải có bổn phận hướng dẫn con am hiểu Phật pháp, cảnh giác những sách vở của ngoại đạo tà giáo, uốn nắn kịp thời mối quan hệ tình cảm của con với người ngoại đạo, để khỏi hối hận về sau.

Vì một vài tôn giáo đưa ra luật lệ khắt khe: Ai lấy vợ, lấy chồng phải theo tôn giáo họ. Cho nên, để tránh tình trạng cha mẹ, con cái phải chia cắt tình cảm tín ngưỡng tôn giáo, cha mẹ phải quan tâm giáo dục con theo đúng chánh đạo, đừng để con mình bị tình, tiền làm lầm đường lạc lối, theo đồ chúng ngoại đạo.

 

Tóm lại:

 

      - Người quy y Tam bảo phải thờ Phat để hằng ngày chiêm ngưỡng, quán tưởng, lễ bái, nguyện noi theo gương hạnh của Ngài để tinh tấn tu hành.

      - Học Phật pháp để biết đường lối tu tập, có kiến giải chân chính, khai mở trí tuệ.

      - Thực hành lời dạy của Phật để được an vui, giải thoát.

      - Giữ gìn oai nghi để thúc liễm thân tâm, tịnh hóa ba nghiệp, nhân cách, đạo đức cao thượng.

      - Ăn chay để nuôi dưỡng lòng từ bi, tránh quả báo luân hồi đền mạng.

      - Nguyện đem ánh sáng Phật pháp đến với mọi người, nhất là những người ở vùng sâu, vùng xa.

      - Nỗ lực làm việc thiện, tô bồi phước đức cho mình, diệt trừ tâm ích kỷ, bỏn xẻn, mở rộng lòng thương.

     - Kiên trì giữ vững lời nguyện quy y Tam bảo, không để bị tiền bạc, tình cảm làm mê mờ lý trí, theo đồ chúng ngoại đạo.

    Người quy y Tam bảo phải làm cho thân tâm của mình ngày một thêm tốt, thêm đẹp, thêm mới, thêm an vui, giải thoát.

      - Khi quy y Tam bảo, chúng ta từ bỏ các thói hư tật xấu như uống rượu, cờ bạc, nói dối... để trở thành người tốt.

      - Giữ gìn oai nghi giới luật. Thân không sát sinh, trộm cắp, tà dâm; miệng không nói dối, nói thêu dệt, nói hai chiều, nói lời ác; ý không tham, sân, si. Ba nghiệp trong sạch là làm cho mình thêm đẹp.

      - Luôn trau dồi trí tuệ bằng cách thường xuyên đọc tụng kinh sách, nghe quý thầy giảng Phật pháp, để mỗi ngày mình hiểu biết thêm nhiều điều hay điều mới.

      - Hiểu rõ được sự vô thường của thế gian, sự giả tạm của thân người, không chấp trước, ít muốn biết đủ, vì mọi người phục vụ, sống một đời có ý nghĩa, tâm ta ngày một an vui, giải thoát.

    Được vậy, mới thật sự là người quy y Tam bảo.

Chùa Ông Tề - Thiên Vân Cổ Tự

Địa chỉ: 1/135 Nguyễn Văn Quá, P. Đông Hưng Thuận, Q.12 TP.HCM               

Điện thoại: 0933.467.179 (Sư Thầy. Thích Thiện Anh)

Email: info@chuaongte.com

Website: www.chuaongte.com

"Giáo lý nhà Phật từ thấp tới cao, từ đạo làm người cho đến đạo hiền Thánh

đều dựa trên nền tảng của nhân quả, vì vậy trong cuộc sống của chúng ta ai

không thấu hiểu lý nhân quả thì sự tu hành của mình khó mà đạt được kết

quả viên mãn"