Chùa Ông Tề Chùa Ông Tề
Super User

Super User

So với các tôn giáo khác, tinh thần Phật giáo lan tỏa nhanh nhất trong các nhà tù ở Scotland (một quốc gia thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh, Bắc Ireland và Vương quốc Anh). Thu thập dữ liệu gần đây thông qua yêu cầu của tự do thông tin cho thấy trong ba năm qua, 22 tù nhân đã chính thức trở thành phật tử. Tại đây, tù nhân đang dần nhận thức và hiểu biết về nhân quả, nghiệp báo và niềm tin Phật giáo.

Nhà tù ở Bắc xứ Wales, Nhà cung cấp dịch vụ thành công sẽ cần phải thiết kế một dịch vụ học tập và kỹ năng đáp ứng nhu cầu học tập của tù nhân và phản ánh cơ hội việc làm trong cộng đồng. Việc học tập và cung cấp kỹ năng bắt đầu từ khi nhà tù mở cửa vào tháng 2 năm 2017.
Trại tù lớn nhất và lâu đời nhất tại quốc gia Scotland, tọa lạc ở ngoại ô thành phố Glasgow
Các vị cán bộ quản giáo và cai ngục không thể nói rõ nơi các tù nhân này được giam giữ, hoặc có bao nhiêu người là phật tử trước năm 2014. Tuy nhiên họ tin rằng con số này đã tăng lên đáng kể trong ba năm qua. Cho đến nay, chưa rõ lý do tại sao những người bị kết án lại cải đạo trở thành Phật giáo đồ. Nhưng một nguồn tin cho biết: “Thật ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều người đặt niềm tin vào một tôn giáo hòa bình, từ bi trí tuệ (đạo Phật). Trong quá khứ, các tù nhân từng phát biểu rằng họ là người Do Thái hay Hồi giáo để có thức ăn ngon hơn, nhưng thật khó để nhìn thấy những gì phía sau sự gia tăng cực phát của sự phổ biến Phật giáo”.
 
Tuy nhiên, người ta cho rằng Phật giáo có thể giúp các tù nhân sống thanh thản khi bị giam giữ, bị cách ly khỏi xã hội và giảm sự khao khát theo đuổi vật chất (nhật ký).
 
Ảnh: Nhà tù Wakefield Her Majesty, biệt danh “lâu đài của ác quỷ” tọa lạc tại thành phố Wakefield, Anh; chuyên giam những tội phạm nguy hiểm bậc nhất như sát nhân, kẻ cưỡng hiếp phụ nữ, phần tử buôn ma túy. Khoảng 600 tội phạm nguy hiểm nhất nước Anh chấp hành án phạt tại một trại giam có chế độ an ninh nghiêm ngặt bậc nhất châu Âu.
 
Phật giáo là một tôn giáo phát triển nhanh nhất trong các nhà tù ở Vương quốc Anh trong thập niên vừa qua. Có nhiều tổ chức đang giảng dạy các chương trình thiền định dựa trên chánh niệm cho các tù nhân tại đây, bao gồm cả Angulimala; một tổ chức Phật giáo chuyên tuyên dương diệu pháp Như Lai tại các nhà tù ở Vương quốc Anh, với mục tiêu đã nêu:
 
Cung cấp phương tiện sẵn có cho việc giảng dạy và tu tập Phật giáo trong nhà tù Her Majesty’s Prisons (HMP Wakefield) và các nơi giam giữ hợp pháp khác, cụ thể:
 
1. Tuyển dụng và tư vấn cho một nhóm các giáo sĩ đến thăm Phật giáo sẽ có mặt ngay khi có cuộc gọi cho các dịch vụ của họ.
 
2. Làm việc với tư cách cố vấn và giữ liên lạc với các vị viên chức chính quyền tại văn phòng Chính phủ, với các phật tử trong nhà tù, cùng bất kỳ cơ quan, quan chức khác có liên quan.
 
3. Cung cấp dịch vụ chăm sóc và cố vấn cho tù nhân sau khi được phóng thích. (Angulimala).
 
Tên Angulimala từ điển tích Phật giáo. Angulimala (Vô Não), vị Thánh nhân trước từng là một sát thủ, vì cuồng tín, một tên tướng cướp man rợ có tên được bắt nguồn từ vòng hoa được làm từ những ngón tay của nạn nhân mà hắn đeo quanh cổ (Angulimala theo nghĩa đen có nghĩa là “vòng hoa ngón tay”).
 
Điển tích Phật giáo kể rằng, một ngày nọ, khi đức Phật đi ngang qua Angulimala, chàng ta cầm gươm và cố gắng đuổi theo đức Phật để giết Ngài nhưng không thể bắt kịp, mặc dù đức Phật đang thanh thản nhẹ nhàng từng bước chân an lạc. Sau một thời gian, Angulimala dừng lại trong sự mệt mỏi và hét lên: “Dừng lại!”. Lúc đó, đức Phật đã trả lời rằng: “Tôi đã dừng lại, tôi đã ngừng những việc làm sai trái và bây giờ là đến lượt ông”.
 
Những lời này đã tác động mạnh mẽ đến một sát thủ, vì cuồng tín, một tên tướng cướp man rợ Angulimala khiến hắn thực sự “dừng lại”. Hắn ném vũ khí của mình và đi theo đức Phật, trở thành một vị tăng sĩ dự vào hàng tăng bảo và cuối cùng đạt được giác ngộ. Chính từ câu chuyện ngụ ngôn này, tổ chức tăng sĩ Phật giáo giúp đỡ tù nhân “Buddhist Prison Chaplaincy” đã lấy tên Angulimala. (Dòng tu Tiếp hiện - The Order of Interbeing)
Hòa thượng Mahathera Ajahn Khemadhammo
Vào tháng 02 năm 1985, Hòa thượng Mahathera Ajahn Khemadhammo, sinh ra tại Vương quốc Anh, ngài đã thành lập “Trại cải huấn tù nhân Angulimala” tại Vương quốc Anh. Được Chính phủ Vương quốc Anh công nhận là đại diện chính thức của Phật giáo trong tất các các vấn đề liên quan đến hệ thống nhà tù Anh quốc và cung cấp cho các vị tăng sĩ, dịch vụ tư vấn, hướng dẫn tu học Phật pháp và các khóa tu tập thiền định cho các tù nhân khắp các quốc gia Wales, Scotland và Vương quốc Anh. Tổ chức này đã giới thiệu Phật giáo cho hơn 100 nhà tù khắp lãnh thổ Vương quốc Anh và từ năm 1999 bắt đầu phổ biến tại các nhà tù ở Scotland.
 
Theo Hòa thượng Mahathera Ajahn Khemadhammo, không chỉ những phạm nhân bị bắt giam trong tù ngục, mà tất cả mọi người, kể cả tu sĩ, đều bị giam cầm trong địa ngục trần gian bởi tâm tham lam, vô minh, hận thù và chấp trước: “Tôi tin tưởng rằng, với các kỹ thuật Phật giáo sẽ trang bị cho chúng ta những phương tiện để thoát khỏi nhà tù đó và được hưởng hạnh phúc lâu dài”.
 
Dick Allen, một cựu tù nhân theo đạo Phật, người đã đến thăm các nhà tù khắp nước Anh trong 9 năm quan sát thấy rằng, theo kinh nghiệm của mình, Angulimala giúp đỡ không chỉ các tù nhân, mà cả các phật tử ở bên ngoài. Làm việc cho tổ chức và thăm các nhà tù đã giúp Allen hiểu rõ hơn con đường Phật giáo và chắc chắn các hoạt động của Angulimala sẽ là nguồn cảm hứng cho nhiều người khác.
 
Lord Avebury, nhà bảo trợ của tổ chức tu sĩ Phật giáo giúp đỡ tù nhân Angulimala, cho biết: “Tôi nghĩ đạo Phật thật sự có thể giúp con người ta đối diện với tình cảnh của mình”. 
 
Sát thủ khét tiếng Robert “Birdman” O’Hara cũng đã gia nhập hàng ngũ những người quy ngưỡng Phật giáo. Đến nay, theo báo cáo của nhà chức trách, hơn 130 tù nhân yêu cầu thực phẩm đặc biệt vì lý do tôn giáo và các quản tù không thể khước từ điều này. 
 
Vân Tuyền (Nguồn: The Buddhist Channel)

 

Đại Lễ cầu siêu nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông sẽ được diễn ra vào lúc 8h ngày 11/11 tại Chùa Hội An, phường Hòa Phú, thành phố mới Bình Dương. Dự kiến có hơn 10.000 tăng, ni, phật tử và người dân sẽ tham dự.

Họp báo thông tin về Đại lễ cầu siêu nạn nhân tử vong do TNGT năm 2017.
Ngày 2/11, tại thành phố mới Bình Dương, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) phối hợp với Ủy ban An toàn Giao thông (ATGT) quốc gia, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Bình Dương tổ chức họp báo thông tin về Đại lễ cầu siêu nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông năm 2017.

Đại Lễ cầu siêu nhằm chia sẻ những mất mát và nỗi đau với các gia đình nạn nhân bị tai nạn giao thông (TNGT). Buổi lễ đặt dưới sự chứng minh và chủ trì của Chư tôn giáo phẩm Hội đồng chứng minh, Hội đồng trị sự Trung ương GHPGVN, lãnh đạo Ủy ban ATGT quốc gia, cùng các bộ, ban, ngành Trung ương và tỉnh Bình Dương.

Sự kiện này nằm trong khuôn khổ các hoạt động hưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông” do Liên Hiệp quốc khởi xướng với thông điệp “Tưởng nhớ người đi - Vì người ở lại”.

Theo đại diện Ban tổ chức, các hoạt động quan trọng của đại lễ bao gồm: Nghi thức tâm linh Phật giáo lễ bạch Phật khai đàn, tiếp linh, cúng Phật đại khoa, quy y tam bảo cho chư hương linh tử vong do TNGT, trai đàn chẩn tế; nghi lễ hành chính với phút tưởng niệm nạn nhân tử vong do TNGT, phát biểu của lãnh đạo Trung ương GHPGVN, Ủy ban ATGT quốc gia, thân nhân các nạn nhân.

Đại Lễ cầu siêu sẽ được diễn ra vào lúc 8h ngày 11/11 tại chùa Hội An, phường Hòa Phú, thành phố mới Bình Dương. Dự kiến có hơn 10.000 tăng, ni, phật tử và người dân sẽ tham dự. 

Dịp này, Ban tổ chức có trao quà đến thân nhân của các vị nạn nhân TNGT có hoàn cảnh khó khăn.

Quốc Định
 

Được sự chấp thuận của Bộ Tư pháp và các vấn đề về Hiến pháp và Tôn giáo - Chính phủ Cộng hòa Mozambique; sự đồng thuận của Ban Tôn giáo Chính phủ Việt Nam, Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam tại Cộng hòa Mozambique, tối 27-10 - 2017, tại Tổ hợp Kaya Kwanga (thủ đô Maputo), GHPGVN tổ chức lễ công bố - ra mắt Hội Phật giáo Việt Nam tại Cộng hòa Mozambique.

Quang cảnh buổi lễ
HT.Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS; TT.Thích Đức Thiện, Tổng Thư ký HĐTS; Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước CHXHCN Việt Nam tại Mozambique Nguyễn Văn Trung; ông AraoLitsuri, Tổng vụ trưởng Tôn giáo Mozambique thay mặt Bộ trưởng Bộ Tư pháp và các vấn đề về Hiến pháp và Tôn giáo, Chính phủ Cộng hòa Mozambique; lãnh đạo thành phố Maputo; ông Nguyễn Văn Thái, Tổng Giám đốc Công ty Movitel và đông đảo bà con Việt Nam tại Cộng hòa Mozambique, Cộng hòa Angola và Nam Phi tham dự buổi lễ.
 
Theo đó, Hội Phật giáo Việt Nam tại Cộng hòa Mozambique được thành lập gồm 26 thành viên, đặt dưới sự chứng minh và cố vấn của TT.Thích Đức Thiện, Tổng Thư ký HĐTS và TT.Thích Đồng Huệ làm Chủ tịch Hội.
Ông AraoLitsuri, Tổng vụ trưởng Tôn giáo Mozambique trao quyết định công nhận tư cách pháp nhân của Hội
HT.Thích Thanh Nhiễu trao quyết định thành lập Hội - thuộc GHPGVN tại Mozambique
Việc thành lập Hội Phật giáo Việt Nam tại Cộng hòa Mozambique là một sự kiện lịch sử đối với Phật giáo Việt Nam và đất nước Mozambique, đây là Trung tâm Phật giáo đầu tiên của Mozambique - ông Tổng vụ trưởng Tôn giáo Mozambique đánh giá.
 
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Hồng Nam - Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã có thư chúc mừng GHPGVN và Hội Phật giáo Việt Nam tại Mozambique; qua đó mong muốn Hội trở thành cầu nối - tích cực góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Mozambique.
Chụp ảnh lưu niệm sau lễ ra mắt
Trước buổi lễ, sáng 27-10, phái đoàn GHPGVN đã đến làm việc và tặng 300 chiếc cặp học sinh tới ông Thứ trưởng Thường trực Bộ Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Mozambique.
Bản vẽ quy hoạch chùa Trúc Lâm Mozambique
Đồng thời, phái đoàn đã tiếp nhận mảnh đất rộng 43.000 m2 (4,3 ha) - vừa hoàn thiện giấy tờ mua bán để tiến hành xây dựng chùa Trúc Lâm Mozambique trong tương lai gần. Phật sự này có sự giúp đỡ của Công ty Movitel thuộc Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel tại Mozambique.

Thiện Tâm/Nguồn giacngo.vn

Chuẩn y thành phần nhân sự Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ VI (2017 – 2022), gồm 04 thành viên Chứng minh Ban Trị sự, 01 thành viên Chứng minh Phân ban Ni giới tỉnh; 36 thành viên Ban Trị sự (19 thành viên Ban Thường trực, 17 thành viên Ủy viên Ban Trị sự), do Hòa thượng Thích Niệm Thới làm Trưởng Ban Trị sự (theo danh sách đính kèm).

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ 
---------------------
Số: 392 /QĐ.HĐTS
 
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
------------------------
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 7 năm 2017
QUYẾT ĐỊNH
V/v chuẩn y thành phần nhân sự Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Tây Ninh
Nhiệm kỳ VI (2017 – 2022)
 
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
 
- Căn cứ điều 29, 30, 31, 33 chương VI Hiến chương GHPGVN (Tu chỉnh lần thứ V);

- Căn cứ mục 2 điều 22 Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo;

- Căn cứ công văn số 1735/UBND-DT ngày 30/6/2017 của UBND tỉnh Tây Ninh;

- Căn cứ tờ trình số 737/TT-BTS ngày 05/7/2017 của Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Tây Ninh, V/v đề nghị chuẩn y thành phần nhân sự Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Tây Ninh, nhiệm kỳ VI (2017 – 2022).

QUYẾT ĐỊNH
 
Điều 1: Chuẩn y thành phần nhân sự Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ VI (2017 – 2022), gồm 04 thành viên Chứng minh Ban Trị sự, 01 thành viên Chứng minh Phân ban Ni giới tỉnh; 36 thành viên Ban Trị sự (19 thành viên Ban Thường trực, 17 thành viên Ủy viên Ban Trị sự), do Hòa thượng Thích Niệm Thới làm Trưởng Ban Trị sự (theo danh sách đính kèm).

Điều 2: Tổng Thư Ký Hội đồng Trị sự, Chánh Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Tây Ninh và các vị có tên tại điều I, chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Điều 3: Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký./.
 
Nơi nhận:
- Như điều 2 "để thực hiện"
- Ban TGCP, Vụ PG "để b/c"
- Văn phòng T.176 - VP T.78
- UBND, BDV, UBMTTQVN, BTG/SNV 
Tỉnh Tây Ninh" "để biết" 
 - Lưu VP1 - VP2
TM. BAN THƯỜNG TRỰC HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
CHỦ TỊCH
 
(đã ký)
 
Hòa thượng Thích Thiện Nhơn


GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ
---------------------- 
 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------------------
DANH SÁCH
BAN TRỊ SỰ GHPGVN TỈNH TÂY NINH
NHIỆM KỲ VI (2017 – 2022)
(Theo Quyết định số: 392 /QĐ.HĐTS ngày 11/7/2017)

I. CHỨNG MINH BAN TRỊ SỰ:


1. Hòa thượng Thích Tịnh Khai (Nguyễn Văn Tạc)
2. Hòa thượng Thích Diệu Khánh (Võ Tấn Ích)
3. Hòa thượng Thích Quảng Kim (Lê Ngọc Sơn)
4. Hòa thượng Thích Thông Nghiêm (Phạm Văn Bình)
II. CHỨNG MINH PHÂN BAN NI GIỚI:

1. Ni trưởng Thích nữ Diệu Nghĩa (Nguyễn Thị Định)

III. THÀNH VIÊN BAN TRỊ SỰ:

A. BAN THƯỜNG TRỰC BAN TRỊ SỰ:

 

STT

PHÁP DANH/THẾ DANH

NĂM SINH

CHỨC VỤ

1.       

HT. Thích Niệm Thới

(Phạm Đình Khương)

1949

Trưởng ban Trị sự,

Trưởng ban Tăng sự

2.       

HT. Thích Huệ Tâm

(Chế Hoàng Minh)

1952

Phó Trưởng ban Thường trực,

Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni

3.       

HT. Thích Minh Bửu

(Trần Văn Bé)

1956

Phó Trưởng ban Trị sự,

Trưởng ban Hoằng pháp

4.       

TT. Thích Minh Nhân

(Phạm Văn Bé)

1947

Phó Trưởng ban Trị sự,

Trưởng ban Từ thiện Xã hội

5.       

ĐĐ. Khanti ThaNo

(Nguyễn Văn Chạy)

1975

Phó Trưởng ban Trị sự phụ trách PGNT Khmer, Trưởng ban Phật giáo Quốc tế

6.       

NS. Thích nữ Châu Liên

(Nguyễn Thị Cẩm Loan)

1952

Phó Trưởng ban Trị sự,

Trưởng Phân ban Ni giới

7.       

ĐĐ. Thích Thiện Thức

(Phạm Hợi)

1970

Phó Trưởng ban kiêm Chánh Thư ký

8.       

ĐĐ. Thích Huệ Chơn

(Phạm Ngọc Tâm)

1979

Phó Thư ký 1 kiêm Chánh Văn phòng

Trưởng ban Thông tin Truyền thông

9.       

SC. Thích nữ Diệu Thiện

(Hồ Thị Làm)

1955

Phó Thư ký 2

10.  

SC. Thích nữ Diệu Hải

(Phạm Thị Thu Hà)

1956

Trưởng ban Kinh tế Tài chánh,

Thủ quỹ Ban Trị sự

11.  

ĐĐ. Thích Nguyên Tấn

(Nguyễn Tin)

1973

Trưởng ban Pháp chế

 

12.  

ĐĐ. Thích Minh Hậu

(Phạm Văn Phúc)

1976

Trưởng ban Kiểm soát

 

13.  

ĐĐ. Thích Nghiêm Bình

(Lê Minh Hiền)

1975

Trưởng ban Văn hóa

14.  

ĐĐ. Thích Nghiêm Lâm

(Đào Hữu Anh)

1970

Trưởng ban Nghi lễ

15.  

ĐĐ. Thích Thiện Nghĩa

(Chế Phước Vinh)

1979

Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử

16.  

ĐĐ. Thích Thiện Thuận

(Nguyễn Văn Ry)

1955

Ủy viên Thường trực

17.  

ĐĐ. Thích Thiện Âm

(Nguyễn Thanh Nhã)

1968

Ủy viên Thường trực

18.  

NS. Thích nữ Tâm Liên

(Nguyễn Thị Đông)

1954

Ủy viên Thường trực

19.  

SC. Thích nữ Diệu Đức

(Trần Thị Tuyết Hồng)

1971

Ủy viên Thường trực

 

B. ỦY VIÊN BAN TRỊ SỰ:

20.  

HT. Thích Thiện Thới

(Nguyễn Văn Luôn)

1953

Ủy viên

21.  

ĐĐ. Thích Định Tánh

(Lê Minh Đức)

1952

Ủy viên

22.  

ĐĐ. Thích Thiện Hiếu

(Nguyễn Văn Dàng)

1973

Ủy viên

23.  

ĐĐ. Thích Nghiêm Đạo

(Bùi Văn Lâm)

1976

Ủy viên

24.  

ĐĐ. Thích Huệ Đạt

(Huỳnh Tấn Đạt)

1978

Ủy viên

25.  

ĐĐ. Thích Thiện Quang

(Lê Văn Huỳnh)

1965

Ủy viên

26.  

ĐĐ. Thích Thiện Trí

(Nguyễn Trọng Trí)

1976

Ủy viên

 

27.  

ĐĐ. Thích Thiện Chơn

(Chế Hoàng Tùng)

1975

Ủy viên

28.  

NS. Thích nữ Hạnh Liên

(Nguyễn Thị Liên)

1964

Ủy viên

29.  

SC. Thích nữ Hạnh Linh

(Lê Thị Huỳnh Vân)

1968

Ủy viên

30.  

SC. Thích nữ Đồng Lạc

(Nguyễn Thị Duy An)

1975

Ủy viên

31.  

SC. Thích nữ Trí Liên

(Nguyễn Thị Hoa)

1970

Ủy viên

32.  

SC. Thích nữ Diệu Liên

(Trần Thị Ngọc Mai)

1978

Ủy viên

33.  

SC. Thích nữ Ngọc Liên

(Nguyễn Thị Thùy Nhân)

1969

Ủy viên

34.  

SC. Thích nữ Diệu Ngân

(Trịnh Thị Ngàn)

1979

Ủy viên

35.  

SC. Thích nữ Ngôn Liên

(Phạm Thị Kim Luyến)

1973

Ủy viên

36.  

SC. Thích nữ Diệu Minh

(Nguyễn Thị Hạnh)

1972

Ủy viên  


 

TM. BAN THƯỜNGTRỰC HỘI ĐỒNG TRỊ SỰ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

CHỦ TỊCH

(đã ký)

Hòa thượng Thích Thiện Nhơn

Câu chuyện dưới đây xảy ra trong cuộc đối đáp giữa Đức Phật và Bà la môn Janussoni :

Bà la môn Janussoni hỏi :

– Bạch tôn giả Gotama, chúng tôi là các Bà la môn chuyên làm các lễ cúng cho người chết với mục đích mong rằng sẽ đem lại lợi ích cho người chết. Như vậy thưa tôn giả có thật sự lợi ích không?

Đức Phật đáp :

– Này Bà la môn, nếu có Tương Xứng người chết sẽ hưởng được phẩm vật cúng dường, bằng ngược lại chẳng có lợi ích gì cả .

Bà la môn Janussoni nóng ruột hỏi :

– Nhưng thế nào là tương xứng và không tương xứng ?

– Này Bà la môn, ai sống sát sanh lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói thêu dệt, có tham ái, có sân si và tà kiến, sau khi mạng chung sanh vào Địa Ngục. Tại đó, y nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của địa ngục. Cúng đồ ăn của con người là không tương xứng. Y sẽ không hưởng được gì từ sự cúng dường của thân thuộc đó .

– Này Bà la môn, nếu người nào sống đầy dẫy 10 ác đã nêu, khi mạng chung bị sanh vào loài Bàng Sanh. Tại đấy, y nuôi sống và tồn tại bằng thức ăn của loài bàng sanh. Quả là không tương xứng, khi người thân quyến đem phẩm vật con người để cúng quảy cho họ. Làm sao người chết đã thọ thân bàng sanh ăn được?

– Ngay cả trường hợp, người chết khi còn sống tu tập, trau giồi 10 thiện nghiệp, được tái sanh làm Con Người, hoặc phước báu hơn là làm Chư Thiên đi nữa, thì tại đấy, tùy theo con người hoặc chư thiên, họ có món ăn riêng để nuôi sống hiện hữu của họ. Cả 2 trường hợp này cũng thật không tương xứng, nếu người thân quyến cúng dường mong người chết thọ nhận được. Người chết đã tái sanh làm người, làm chư thiên rồi làm sao thọ nhận !

– Duy có một trường hợp người chết tái sanh làm thân Ngạ Quỷ, món ăn nào mà thân quyến bè bạn con cáiẨ muốn hiến cúng cho họ thì họ sẽ trọn hưởng được. Loài ngạ quỷ sẽ sống và hiện hữu nhờ vào các món ăn cúng quảy này. Đây là trường hợp duy nhất có sự tương xứng .

– Thưa Tôn giả Gotama, người Bà la môn hỏi, các trường hợp người thân chết tái sanh vào các loài bàng sanh, địa ngục hay sanh lại làm người hoặc sanh làm chư thiên, sự cúng quảy không có sự thọ hưởng. Nhưng nếu người thân chết không tái sanh vào cõi ngạ quỷ, thì ai sẽ là đối tượng thọ hưởng những của bố thí đó?

– Này Bà la môn, nếu không là người thân thuộc đó, thì những người thân thuộc khác của người cúng, ở ngạ quỷ, sẽ được hưởng thay trọn phần .

– Nhưng nếu cả dòng họ thân thuộc của người bố thí ấy không có ai bị tái sanh trong ngạ quỷ thì phẩm vật cúng sẽ thuộc về ai?

– Không có trường hợp này, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài mà không có một ai đó trong huyết thống bị sanh vào. Nhưng này Bà la môn, nên nhớ rằng, mặc dù thế, người bố thí ấy phải được hưởng quả báo tốt .

– Có phải Tôn giả đã nói về một giả thiết không thể xảy ra?

– Đúng thế, này Bà la môn, trong suốt quá trình sống, người nào tuy sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói thêu dệt, có tham có sân si, tà kiến, nhưng người ấy biết bố thí, ủng hộ cho những người có đạo đức, người sống vì sự nghiệp đạo đức. Người ấy khi mạng chung sẽ sanh cộng trú với loài voi, nhưng là loài voi được ăn uống, trang sức đầy đủ. Nếu nghiệp duyên của người ấy sanh vào loài ngựa, bò hay trâu, hay bất kỳ loài bàng sanh nào khác, thì tại đấy, y vẫn thọ hưởng đầy đủ đồ ăn uống trang sức tương xứng .

Nếu như ai đó, từ bỏ sát sanh, trộm cướp, tà hạnh từ bỏ nói láo, lời độc ác, lời hai lưỡi, lời thêu dệt, từ bỏ tham, sân si và tà kiến, lại còn biết bố thí và nhất là bố thí cho người có cuộc sống đạo đức, người vì sự nghiệp đạo đức. Khi người ấy tái sanh làm người, thì tại đấy y sẽ hưởng thọ 5 thứ công đức của loài người. Nêú người ấy tái sanh vào chư Thiên, thì tại đấy, y sẽ hưởng thọ 5 thứ công đức của chư thiên. Trong mọi trường hợp, người bố thí vẫn gặt kết quả tốt tương xứng. Người bố thí, cúng dường nhất định có kết quả .

Sau pháp thoại đầy ý vị, hứng thú Bà la môn Janussoni đã bỗng chốc trở thành một nam cư sĩ tinh tấn .

(Kinh Tăng Chi III, 539 — 543)

Bài pháp thoại Người chết có nhận được thức ăn người sống dâng cúng hay không được Thầy Thích Thiện Tuệ thuyết giảng tại Chùa An Lạc, Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh, ngày 05-05-2016 (02-04 Bính Thân)

 

 

 

Xem thêm bài giảng: Nên cúng chay hay mặn cho người đã mất | Có nên thờ cúng người đã mất? Có nên thờ cúng người đã mất? | Tại sao cần phải thờ cúng người mất được đại đức Thích Phước Tiến thuyết giảng tại chùa Bửu Lâm (Cao Lãnh, Đồng Tháp) ngày 11/03/2017 (14/02/Đinh Dậu)

Thứ bảy, 04 Tháng 11 2017 00:00

Truyền Thống Khất Thực

Việc đầu tiên của đức Phật sau khi giác ngộ là thành lập Tăng đoàn gồm những đệ tử xuất giatheo Ngài, những hiền nhân nay đây mai đó, những người từ bỏ tất cả để học Phật pháp và hoằng dương giáo lý giải thoát. Họ sống bằng cách đi khất thực từ nhà này đến nhà khác, và sở hữu của họ không có gì ngoài ba chiếc Y và một cái bình Bát.

Danh từ khất sĩ có từ đó. Khất Sĩ có nghĩa là khất thực và khất pháp, tức là xin vật thực của người đời để nuôi thân và xin Pháp của Phật để tu hànhnuôi tâm. Từ ban đầu, họ không phải là nhữngnhà tu khổ hạnh tự hành xác để sám hối, và không xem lối sống đơn giản tự nó là cứu cánh mà chỉ là phương tiện để giải thoát những phiền toáihàng ngày, hầu có thể tập trung toàn lực vào công việc quan trọng duy nhất là đạt giác ngộ cho mình và giúp ích cho người.

Khất thực có nghĩa là xin ăn. Đó là cách nuôi thân một cách chân chính do Phật dạy cho những đệ tửxuất gia. Đó là thực hành chính mạng thanh tịnh. Tưởng cũng nên nói thêm ở đây, là tu sĩ của một sốtôn giáo khác ở xã hội Ấn Độ thời đức Phật còn tại thếthường dùng những phương tiện không chính đáng để mưu sinh, bởi lẽ những công việc ấy nhẹ nhàng, dễ làm, không khó nhọc như các nghề coi bói toán, xem tinh tú, bùa chú, xem ngày xấu, giờ tốt, xem phong thổ, địa lý, xây nhà, đào ao, v…v… Đức Phật nhận thấy đây là điều không thể chấp nhận và không phải là việc làm của người tu sĩ Phật giáo, không phải là hành chánh mệnh thanh tịnh.

Đi khất thực còn gọi là đi bình bát hay trì bát. Chữ Bát có nghĩa là đồ dùng để chứa đựng các thực phẩm chỉ đủ vừa sức ăn cho một người. Bình bát là loại bình được làm bằng đá, bằng sành, bằng đất sét nung thật chín rồi tráng men bên trong cho khỏi rỉ nước, chứ không được làm bằng vàng bạc hay tất cả những kim khí quý…. Nếu dùng bằng kim khí quý thì không đúng phẩm hạnh của người xuất gia. Các vị đã phát tâm xuất gia tức là tập hạnh xả bỏ tất cả, kể cả thân mạng nếu cần và đúng với chánh pháp, nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Ở các nước theo Nam Tông Phật giáochư Tăng đikhất thực nên thường dùng bình bát. Các nước theo Bắc Tông Phật giáo thì không đi khất thực nên chỉ dùng bình bát trong ba tháng an cư kiết hạ, có nơi còn ba tháng kiết đông nữa; đồng thờithỉnh thoảngcó quý thí chủ phát tâm cúng dường trai tăng thì cũng dùng bình bát để cúng Phật trước khi thọ trai.

Chuyến đi khất thực bao giờ cũng diễn ra vào buổi sáng và chấm dứt trước giờ ngọ tức trước lúc mặt trời đứng bóng. Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm, không đứng trước cửa chợ mà đi theo thứ tự, từ nhà này sang nhà khác, không phân biệtmắt nhìn xuống và yên lặng đứng đợi trước mỗi cửa nhà để xem thức ăn có được đặt vào bình bát không. Các thí chủ chỉ cúng dường những thức ăn đã được nấu sẵn, không cúng dường các vật liệu chưa làm thành món ăn, như cúng cơm chứ không cúng gạo, cúng món rau xào chứ không cúng bó rau chưa nấu chín. Nếu chưa đủ dùng, chư vị tiếp tục đi theo hàng dọc đến nhà bên cạnh nhưng không được quá bảy nhà. Chư vị không được phép bỏ sót nhà nào, hoặc dành ưu tiên cho phố xá ở các thị trấn phồn thịnh, các gia chủ giàu hay nghèo đều phải được tạo cơ hội đồng đều để gieo trồng phước duyên, cũng không muốn gây cảm tưởng là chư vị ham thích những khu phố giàu có vì thức ăn ngon hơn.

Khất thực xong, các vị trở về tịnh xá để ăn trước khi mặt trời đứng bóng. Đây là bữa ăn duy nhất trong ngày. Thông thường thức ăn được phân ra làm bốn phần: một phần nhường lại cho các bạn đồng tunếu thấy họ không có hay có ít, một phần san sẻ cho người nghèo, một phần dành cho loại chúng sinhkhông phải là người nhưng sống chung với người, và cuối cùng còn lại là phần mình dùng. Khi thọ dụngthức ăn các vị Tỷ kheo xem như là việc uống thuốc để duy trì sự sống mà tu hành, ngon không ham, dở không bỏ. Thọ dụng cúng phẩm của người đời vừa khỏi đói khát thì thôi, không được ham cầu cho nhiều, phá vỡ thiện niệm của họ. Sau bữa ăn, các vị rửa bát, xếp gọn các y, ngơi nghỉ trong chốc lát, liền lại đến một gốc cây hay căn nhà trống, hay tịnh thất ngồi thiền định như hành Tứ niệm xứ hay niệm hơi thở vào, hơi thở ra.

Hằng năm, chư Tăng ni an cư vào ba tháng mùa mưa. Tất cả trở về sống chung trong các tịnh xá lớn. Trong thời gian này, chư Tăng không đi khất thực, đã có thiện namtín nữ, đến tịnh xá “để bát” và lo tứ sự cúng dường. Cứ đến ngày lễ Bố-tát vào ngày trăng tròn và ngày đầu trăng, chúng Tỳ kheo cùng sống trong một vùng phải tập họp lại một chỗ gọi là giới trường để tụng đọc Giới bổn Ba La Đề Mộc Xoa. Chư Ni thì có đại diện đến xin lãnh giới ở chư Tăng và trở về tịnh xá riêng của Ni để tụng đọc Giới bổn Ni. Ngoài ba tháng an cưchư Tăng được tung ra khắp các phương hướng, đi đến các trú xứ khác nhau, trong các quốc độ, vừa khất thực để độ nhật, vừa thuyết pháp độ sinh, và vừa nỗ lực tinh cần tiếp tục hành Thiền để đoạn trừ tham sân si.

Kính thưa quý vị

Pháp Khất thực do Phật truyền cho các đệ tử xuất gia phù hợp với nguyên lý Trung đạo, tức là tránh xa hai cực đoan: Thứ nhất là tránh xa sự sung sướng thái quá qua việc ăn thực phẩm do người đời cúng dường để vào trong bình bát mà không dùng đũa ngọc, chén ngà, bàn cao, ghế đẹp với thức ăn mỹ vị; và thứ hai là tránh xa sự khổ hạnh thái quá qua chiếc bát đựng đồ ăn vừa đủ dùng, không giống như phái tu khổ hạnh lượm trái cây, lượm đồ ăn dư thừa mà ăn.

Theo Kinh Phật, sự xin ăn của tu sĩ đem lại lợi ích cho mình và cho chúng sinh:

Đối với vị Tỳ kheo khất thực thì có năm điều lợi ích:

(1) Tâm trí được rảnh rang, ít phiền não,
(2) Không bận rộn tâm và thân để kiếm kế sinh nhai,
(3) Đoạn trừ tâm kiêu căng ngã mạn,
(4) Đoạn trừ lòng tham, không thể tham ăn ngon và ăn nhiều vì ai cho gì ăn nấy, không thể chọn lựa, thức ăn chỉ đầy bát chớ không nhiều hơn nữa, tránh khỏi sự thâu trữ vật thực tiền của và
(5) Có nhiều thì giờ tu hành.

Ngoài lợi ích cho riêng mình, vị Tỳ kheo khất thực còn mang lại ba điều lợi ích cho chúng sinh như:
(1) Tạo cơ duyên cho người bố thí đoạn trừ lòng tham, tức là tạo phước duyên cho họ,
(2) Tạo cơ duyên giáo hoá chúng sinh, và
(3) Nêu gương sống giản dị làm cho người đời bớt tham đắm của cải.

Theo Kinh Phật, trước khi lên đường khất thực vị khất sĩ nguyện rằng: “Nguyện cho các vị Khất gia thảy đều được no đủ và nguyện cho các thí chủ thảy đều được phước báu vô lượng. Như nay tôi được món ăn là dùng để điều trị cái thân độc hại này, để tu tập thiện pháplợi ích cho thí chủ.”

Trong khi đi khất thực, vị khất sĩ giữ tâm bình đẳng: theo thứ tự nhà của dân chúng mà xin ăn, không chỉ đến xin nơi nhà giầu, cũng không chỉ xin nơi nhà nghèo. Có lần đức Phật quở Tôn gỉa Ca Diếp bỏ nhàgiầu mà xin nhà nghèo, quở Tôn gỉa Tu Bồ Đề bỏ nhà nghèo mà xin nhà giàu. Vì trước đó Tôn Giả Ca Diếp nghĩ rằng: “Người nghèo thật đáng thương, ít phước, nếu không gieo trồng phước lành cho họ thì đời sau lại càng khổ hơn, nên đến đó xin để nhờ đó họ bố thí cúng dường mà được phước về sau”. Trái lạiTôn giả Tu-Bồ-đề lại cho rằng: “Người giàu, nếu đời nay không gieo trồng phước lành thì đời sau lại nghèo khổ.” Mỗi vị đều trình bày lý do của mình, Đức Phật mới quở trách các vị ấy là bậc A-la-hán có tâm phân biệt, không bình đẳng. Khi đi vị Khất sĩ không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện, đi hết bảy nhà nếu không ai cúng dường cũng phải trở về với bát không và không ăn ngày hôm đó. Khi đi khất thực, vị khất sĩ cũng không được để ý xem mình được cái gì, và cũng không được thỏa mãn cũng như bất mãn. Nếu một người đàn bà cúng dường đồ ăn, vị Khất sĩ không được nói, nhìn hay quan sát người ấy đẹp hay xấu. Đồ ăn cúng dường cho Khất sĩ không phải luôn luôn nhiều hay ngon lành, hay tinh khiết. Các chuyến đi khất thực đôi lúc cũng có thể gây nên những xáo trộn tình cảm cho các Tỳ-kheo trẻ vì đa số thí chủ là đàn bà con gái. Do đó, việc tự điều phục thân tâm phải được tăng cường là điều rất cần thiết trong lúc khất thực, như đức Phật đã nhấn mạnh: “Chỉ khi nào thân tâm được điều phụcthực hành chánh niệm và phòng hộ các căn thì mới đi vào làng khất thực”.

KínhThưa quý vị,

Ngày nay, tại một số quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nam Tông như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và một phần của miền Nam Việt Nam chư Tăng vẫn tiếp tục theo truyền thốngkhất thực này. Ở Trung Hoa, Triều Tiên và Tây Tạng truyền thống khất thực dường như đã hoàn toànbiến mất. Dưới Triều nhà Đường ở Trung Hoa, một tông phái đặc biệtLuật Tông, được thành lập với mục đích làm sống lại truyền thống khất thực xưa, và đem ra thực hành những giới luật nghiêm ngặt của Luật Tạng. Dưới triều đại nhà Tống, các Thiền Sư thực hành khất thực và sự thực hành này còn tồn tại nơi những Thiền Sư Nhật BảnTuy nhiên ở Nhật Bảnkhất thực không phải là nguồn sinh sống chính mà chỉ là một sự tập luyện kỷ luật cho những vị sơ tu hay là một cách lạc quyên vào những dịp đặc biệtvà cho những mục đích từ thiện. Đối với Phật giáo phương Tây, vì hoàn cảnh xã hội không giống như hoàn cảnh các quốc gia phương Đông, nên pháp Khất thực khó thực hiệnĐa số các Tăng ni không đi khất thực nên các nhu cầu ăn uống đều do các Phật tử tại gia cúng dường.

Nói tóm lại, vì nhu cầu tu học, nên vấn đề ăn uống cần phải được giản dị, thực phẩm phải được xem như là dược thực, vì thế Tăng đoàn thời Đức Phật phải đi khất thựcKhất thực là chính sách thực hànhgiáo pháp, là truyền thống của chư Phật. Các thầy Tỳ kheo phải giữ tâm bình đẳng mà đi khất thực từng nhà, không phân biệt giầu nghèo sang hèn để tạo cho đủ mọi tầng lớp dân chúng đều có cơ duyên thực hành hạnh bố thí cầu phước, nhân dịp đó quý thầy nói pháp khuyên dạy mọi người tu hành. Khi đi không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện, luôn điều phục thân tâm trong chánh niệmđi theo thứ lớp: Nếu hàng Phật tử thỉnh thọ trai thì không cần theo thứ lớp, cứ đi thẳng đến nhà thí chủthỉnh mình. Còn khất thực phải theo thứ lớp. Ai cho gì ăn nấy, không được phân biệt thức ăn tốt xấu, ngon dở, chay mặn, không được qui định người thí chủ phải cúng dường như thế nào, mà là tùy điều kiện khả năng và phát tâm của thí chủ. Đó mới gọi là trí không phân biệt. Cũng vậy khi ăn thì phải trộn các món ăn với nhau để không còn phân biệt món này với món khác, món ngon món dở và không phân biệt mùi vịMục đích để không còn luyến ái mùi vị thơm ngon, mà chỉ cần ăn để nuôi sống xác thân mà tu hành giải thoát.

Giáo Đoàn Khất Sĩ.

TRUYỀN THỐNG KHẤT THỰC

 

Nếu ai đã một lần đến các nước theo truyền thống Phật giáo nam truyền, hẳn sẽ nhìn thấy hình ảnh các vị sư với chiếc y màu vàng đang đi khất thực vào buổi sáng sớm. Sẽ có bạn tự hỏi (nhất là những bạn không hiểu về Phật giáo nam truyền) tại sao họ lại đi khất thực và khất thực là gì mà ở xứ mình hiếm thấy?

Phải chăng đó là hình thức ‘xin ăn’ như những ‘cái bang’ đang tích cực thi hành khắp nơi ở Việt nam? Nếu để ý kỹ hơn, có thể bạn sẽ nói rằng dường như có cái gì đó khác hơn vì những vị sư nhận phẩm vật trong sự tôn kính của người cúng dường. Nó hoàn toàn khác với hình ảnh tranh đua của những ‘cái bang’ khi được tài vật. Thế thì, điều gì làm nên sự khác biệt ấy và ý nghĩa của khất thực là gì?

Khất thực là một thuật ngữ Phật học mà nếu ta dịch nghĩa sẽ dễ bị hiểu lầm như là ‘xin ăn’ bình thườngKhất thực là một sinh hoạt thường nhật của tăng đoàn thời đức Phật. Đó là một cách hành trì, một hạnh nguyện của các vị xuất gia theo Phật giáo nam truyền (nguyên thủy). Khất thực là phương cách có thể đem lại nhiều lợi lạc thiết thực cho vị khất sĩ cũng như Phật tử cúng dường; là cách truyền bá và duy trìPhật pháp hiệu quả thông qua hình ảnh tăng đoàn hành khấtTuy nhiên, những giá trị lợi lạc ấy chỉ có thể đạt được khi pháp này được hành trì đúng mục đích.

Quay về quá khứ cách nay hơn 25 thế kỷ, nơi xứ Ấn độ linh thiêng và đầy màu sắc tôn giáo, người ta nhận thấy có một tăng đoàn hành khất đo đức Phật Thích Ca Mâu Ni lãnh đạoHình ảnh đoàn hành khất thật trang nghiêm và thanh tịnh đã gây xúc động không biết bao nhiêu con tim và tạo nên tình cảm kính quý vô vàn trong lòng xã hội từ vua chúa cho đến thứ dânHình ảnh ấy biểu trưng cho sự giải thoátcủa những bậc đã giải thoát mà đức Phật là vị khai sáng. Họ đã giải thoát khỏi sự ràng buộc bởi vật chấtvà tình cảm thế gian và sống một đời sống tâm linh thanh thoát ngay trong cuộc đời lắm sự trói buộcnày. Có lẽ, không ai nghĩ rằng đức Phật khất thực vì cái ăn bởi vì ai cũng biết rằng Ngài xuất thân từ địa vị thái tử của một nước giàu cóVậy thìmục đích thực hành hạnh nguyện này, theo lời Phật đáp lại yêu cầu của vua cha, là theo truyền thống của chư Phật. Là vị Phật, Ngài cũng phải kế thừa truyền thống ấy và cũng để làm tấm gương mô phạm hướng dẫn tăng đoàn đệ tử cũng như giáo hóa chúng sanh.

Thoạt nhìn qua hình ảnh tăng đoàn khất thực, nhiều người cho rằng đây là hành động tiêu cực vì chỉ đi nhận phẩm vật của người khác như cách nhìn của người phương Tây. Tuy nhiên, khi phân tích sâu vào bản chất của pháp hành trì thì chúng ta sẽ thấy được những giá trị rất có ý nghĩa của nó. Sẽ không phải là hành trì hạnh khất thực nếu như vị hành khất chỉ đi để nhận phẩm vật với tâm mong muốn mà không vì mục đích tu tập. Chỉ đi để mong nhận phẩm vật thì ý nghĩa của nó không khác mấy so với việc làmcủa những ‘cái bang’. Với tâm mong cầu thì chắc chắn vị ấy có tâm thích và không thích, những mầm móng của tâm tham và sân. Cho nên, đó không phải là pháp hành trì của vị khất sĩ. Ngược lại, vị khất sĩđầu ‘đội trời’ chân ‘đạp đất’ là biểu trưng cho sự thực hành hạnh xả bỏ bản ngã và thể hiện tấm lòng từbi hướng đến với mọi người. Không phân biệt sang hèn, phẩm vật ngon dỡ, nhiều ít thì làm gì có tâm tham và sân khởi lên khi nhận phẩm vật. Sự thanh tịnh của tâm sẽ chế tác nên năng lượng công đức và phước báo để có thể nuôi lớn tâm vị hành khất và mặt khác hồi hướng cho các Phật tử cúng dường. Có thể nói đây là một nghệ thuật sống, một phương pháp thực tập mà đức Phật đã thực hành khi còn tại thế, và giờ đây truyền thống ấy vẫn còn giữ ở một số nơi. Hình ảnh những vị khất sĩ bước đi những bước khoan thai, thảnh thơi trong chánh niệm, bước đi theo thứ tự từng nhà một mà không phân biệtgiàu nghèo là biểu trưng của lòng bình đẳng và sự an lạc.

 

Ở Việt namhình ảnh chư tăng khất thực cũng rất phổ biến trong cộng đồng người theo Phật giáo nam truyền ở các tỉnh tây nam bộ, Sài Gòn và một số tỉnh khác. Tuy nhiên, do có hiện tượng thật giả lẫn lộn nên Giáo hội đã có biện pháp tạm ngưng sinh hoạt khất thực ở Sài Gòn và một số tỉnh khác. Việc tạm ngưng là để tìm ra giải pháp và quy định cụ thể cho việc hành trì hạnh nguyện thiêng liêng này nhưng cho đến nay vẫn chưa thấy sự phục hoạt trở lại. (Xem video hình ảnh buổikhất thực của chư Tăng Tịnh Xá Ngọc Minh, Phan Thiết)

Đã có nhiều vị giảng sư Phật giáo có uy tín, vì nhìn thấy được giá trị lợi lạc của hạnh khất thực, thấy được giá trị thiết thực của nhiệm vụ hoằng pháp qua hình ảnh tăng đoàn khất thực, đã mạnh dạn đề nghị Giáo hội nên cho phép chư tăng khất thực với những quy định cụ thể. Những vị ấy đã gợi ý là nên cấp thẻ cho những vị phát nguyện hành trì hạnh khất thực và quy định thời gian nhất định, cũng như là phải khất thực thành từng đoàn. Như thế, những vị sư giả sẽ dễ bị phát hiện và việc khất thực không làm ảnh hưởng xấu đến Phật giáoThiết nghĩ, những đề xuất trên có tính khả thi và mong rằng Giáo hộisẽ sớm ban hành hướng dẫn cụ thể cho những hành giả tu tập theo truyền thống này. Có lẽ, đây cũng là mong mỏi chung của những người con Phật mong muốn nhìn thấy hình ảnh truyền thống có ý nghĩacủa Phật giáo được duy trì.

 

Trong khi chờ đợi, thiết nghĩ, những vị sư bên tăng đoàn nam truyền và những vị phát nguyện hành trìhạnh nguyện này nên có những đề xuất và có chương trình cụ thể để trình Giáo hội xin phép được tiếp tục hành trì. Như vậy, việc phục hoạt sẽ sớm trở thành hiện thực hơn là chúng ta cứ trông chờ từ Giáo hội trong khi Giáo hội có rất nhiều việc phải giải quyết. Điều đó cũng thể hiện ý chí của những hành giảPhật giáo không khuất phục trước những khó khăn để vượt qua những thách thức mà Phật giáo đối mặt cũng như góp phần phổ biến Phật giáo trong nhân gian. Đó là cách hành xử tích cực hơn nhiều so với sự thất thủ, lùi bước an toàn mỗi khi có những khó khăn hay thử thách xảy đến.

Trên tinh thần hoằng pháp về văn hóa tâm linhhình ảnh tăng đoàn khất thực hôm nay sẽ tạo nên bức tranh sinh động về một hình ảnh tăng đoàn thời đức Phật, tạo nên một nét văn hóa Phật giáo truyền thống. Song song với các hình thức tổ chức lễ hội Phật giáo, nên chăng chúng ta cũng tổ chức ít nhấtmỗi năm 2 lần khất thực tập thể như tăng đoàn thời đức Phật vào tuần lễ Phật đản và mùa Vu lan. Sẽ thật có ý nghĩa về giá trị văn hóa nếu Phật giáo Việt nam thực hiện được điều này trong thời gian sắp tới.

Hạnh Chơn

Dưới đây là một số hình ảnh trích từ: MỘT BUỔI SỚM MAI TẠI LUANG PRABANG - Tịnh Thuỷ (viết từ Luang Prabang)

 

hanhhuong-laos-222

hanhhuong-laos-217

 

 

Ý NGHĨA KHẤT THỰC CỦA HỆ PHÁI KHẤT SĨ

 

Lịch sử của Ấn Độ cổ đại thường ghi lại sự kiện bốn giai cấp tức là giai cấp tăng lữ Bà la môngiai cấpvua chúa, giai cấp thương gia địa chủ, và giai cấp hạ tiện Chiên đà la, nhưng hiếm khi nói đến những Sa môn. Đó là những người tu hạnh không nhà, rày đây mai đó, để thỏa mãn những khao khát về tâm linhtìm kiếm câu trả lời tối hậu.

Điều này hàm ý rằng về mặt lịch sử thì trước khi có mặt những vị Sa môn đệ tử của Sa môn Gotama (cũng là một Sa môn) thì những Sa môn ngoại giáo hay ngoại đạo khác đã hiện diện và du hành, điểm xuyết cho bộ mặt sinh hoạt tín ngưỡng thời tiền Phật giáo. Họ đến rồi đi, đi rồi đến những làng mạc thôn dã như Pàva, Kushinagara, hay là những phố thị náo nhiệt xa hoa như Vương XáKiều Tất La. Họ có mặt ở dọc theo rặng Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ và vùng bình nguyên châu thổ sông Hằng. Trên con đườngcủa những kẻ sĩ không nhà cửa, không vợ con, tiền bạc đó thì pháp môn mà họ sử dụng để nuôi thân tứ đại dĩ nhiên là “khất thực”.

Khất thực trong giai đoạn khởi thủy của Phật giáo:

Chính Thái tử Sĩ Đạt Ta khi chưa thành tựu quả vị vô thượng đã gia nhập vào hàng ngũ những kẻ sĩ không nhà này và dĩ nhiên là Ngài cũng đã sử dụng pháp môn khất thực để giải quyết vấn đề cơm áo trong giai đoạn tìm phương pháp giải quyết chuyện tử sinh. Chẳng những trong giai đoạn tìm kiếm chơn lý mà ngay cả sau khi sáng tỏ đạo mầu thì Ngài cũng cho rằng khất thực là một pháp môn phương tiệnchính để sinh sống, và khẳng định nó là pháp môn truyền thống của chư Phật ba đời. Sau thời kinh Chuyển Pháp Luân mà nội dung chủ yếu là giáo lý Tứ đế và Trung đạo thì tuyên ngôn của Ngài dành cho bản thân và dành cho những Sa môn đệ tử đầu tiên là chủ trương ‘hoằng hóa chúng sinh’, nói nôm na là ‘mở đạo’: “Hãy ra đi, các Tỳ-khưu, đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người, đem hạnh phúc lại cho nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem lại sự tốt đẹplợi ích và hạnh phúc cho chư thiên và nhơn loại. Mỗi người hãy đi một ngả…” [1]. Mà mở đạo theo kiểu cổ điển là phải du hành, không nhà cửa, không sự nghiệp vợ con; mà du hành thì lại gắn liền với pháp môn khất thực. ‘Khất thực’, cũng công việc này mà những người nghèo hèn đói khổ thì gọi là đi ăn xin hay đi ăn mày, còn những vị Sa môn đệ tử của Sa môn Gotama thì gọi một cách kính trọng là ‘đi hóa duyên’.

 

Khất thực được ghi chép trong Kinh tạng:

Kinh Kim Cang là một bộ kinh góp phần quan trọng trong việc xây dựng nên nền tảng của tư tưởng Bắc truyền, gọi theo cách khác là Bắc tông hay Đại thừa. Kinh này có một khởi đề rất truyền thống với việc kể lại trình tự công việc “đời thường” của bậc thầy của trời và người là “Một hôm Đức Phật ở nước Xá-vệ tại rừng Kỳ-đà trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại Tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị. Khi ấy gần đến giờ thọ trai, Đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá Vệ khất thực. Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng ở. Thọ trai rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi” [2].

Hình ảnh của một vị Vô thượng sĩ mà lại hiền hòa và bình dị, đầu trần chân không, mỗi sáng đi trì bình khất thực là một hình ảnh xuất hiện rất thường xuyên trong hệ thống Kinh tạng Nikàya. Theo định nghĩa truyền thống thì tất cả mọi Tỷ kheo tức là mọi tu sĩ Phật giáo có thọ giới đầy đủ đều được định nghĩa là “Khất sĩ”, “bố ma” và “phá ác”.

 

Ý nghĩa khất thực của Hệ phái Khất sĩ:

Đối với một người có một chút suy tư sâu xa thì khái niệm ‘xin’ không tách rời khỏi khái niệm ‘cho’, khái niệm ‘học tách rời khỏi khái niệm ‘dạy’. Người Khất sĩ vừa xin vừa cho, vừa học vừa dạy, theo chủ trương: Xin vật chất cho lại tinh thần; học từ nơi tất cả chúng sanh, dạy lại tất cả chúng sanhtùy theonhân duyên cảnh ngộ.

Chữ Khất sĩ được phân tích một cách chính thức bởi vị tổ sư khai sơn của hệ phái Khất sĩ thành ra hai vế: Khất là xin, Sĩ là học. Bài viết này hướng về ý nghĩa của “khất thực”, nên sẽ không phân tích xa hơnvề mối quan hệ “học-dạy” của người Khất sĩ mà phân tích ý nghĩa việc “xin cho” của người Khất sĩ.

Người Khất sĩ vừa xin vừa cho, vừa học vừa dạy, theo chủ trương: Xin vật chất cho lại tinh thần. Chí ít thì cũng tạo điều kiện giúp có cơ hội để gieo một duyên lành nào đó, cơ hội để mài mòn bớt lòng bỏn sẻn, ích kỷ; và cũng tự cho mình một cơ hội để mài mòn ‘cái ta’. ‘Cái ta’ này bình thường thì nó tự động to lớn ra, vì vậy người có ‘cái ta’ ít khi được điều phụcchế ngự thì thường gây nên hầu hết tất cả những bi kịch trong gia đình và trong các tổ chức, xã hội mà người đó có mặt. Có thể nói rằng ‘cái ta’ ở đâu thì tai nạn, khổ đau có mặt ở đó nếu ‘cái ta’ đó không được chế ngự; và ‘cái ta này thường được sự giàu có, chức tước và uy quyền nâng cấp.

Hiện nay ở những nước mà Phật giáo Nam truyền được nâng lên vị trí quốc giáo thì truyền thống khất thực được hành trì nghiêm chỉnh như là một thời khóa tu tập đầu tiên không thể bỏ qua trong một ngày. Ở Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, từ 05 giờ sáng hầu hết các nhà sư đều xuống đường đi khất thực cho cả bữa điểm tâm và bữa ngọ trưa. Khoảng 06 giờ 30 là công việc khất thực kết thúc, các nhà sư lại tập trung vào các việc khác như đi học, đi dạy, thuyết giảngbiên soạn, dịch thuật, lao tác, và các công tác xã hội khác. Ở những nước mà truyền thống Phật giáo Bắc tông là chủ đạo thì vẫn có một bộ phận Tăng Ni còn kính tin, giữ gìn và quý trọng truyền thống này như ở Nhật Bản, Hàn Quốc mặc dù việc hành trì có phần hạn chế.

Ở Việt Nam chúng ta, trong thời kỳ khởi thủy của đạo Phật Khất sĩ vào những thập niên 40, 50, đạo Phật Khất sĩ Việt Nam cũng vẫn đã thể hiện và hành trì nghiêm túc pháp môn khất thực và chính phápmôn này đã giúp các nhà sư Khất sĩ trên bước đường du hóa trong thời kỳ mở đạo, đẩy mạnh được bánh xe Chánh pháp vào những địa phương mà trước đó Chánh pháp là một điều rất là xa lạ và mơ hồĐạo Phật khất Sĩ (tên gọi đầu tiên sử dụng từ thời kỳ lập đạo đến năm 1982) là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam với tên gọi mới là Hệ phái Khất sĩ còn kết hợp việc khất thực với việc ăn chay. Và việc này đã tạo nên bản sắc riêng của ‘Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam’.

 

Đức Tôn sư Minh Đăng Quang, vị Tổ sư khai sáng ra dòng truyền thừa Khất sĩ Việt Nam đã nâng việc khất thực lên làm một nguyên lý chung cho tất cả mọi người: Ai cũng phải xin và cho. Ai cũng phải học và dạy vì không ai tự một mình mình mà có thể sống được, “lẽ xin là chơn lý của vũ trụ, mà chúng sanh, kẻ thì xin vật chất để nuôi thân, người thì xin các pháp để nuôi trí, ai ai cũng đều là kẻ xin cả thảy” [3]. Ngài đã phân tích việc ‘xin’ ra làm nhiều phương thức ‘xin’ như dùng thế lực để ‘xin’, dùng mánh lới để ‘xin’, gian lận để ‘xin’, cướp giật để ‘xin’… trong đó cái xin tốt đẹp nhất là cái xin của người Khất sĩ chân chính. Người cho và kẻ thọ nhận đều được lợi lạc, phước báu, an vui, với tinh thần tự nguyện.

Trong việc nối truyền Chánh pháppháp môn khất thực được Ngài nâng lên thành Chánh đạothứ năm trong Tám đạo của Bát chánh đạo hay còn gọi là Bát Thánh đạo. Đó là Chánh mạng đạo: nuôi mạng một cách chơn chánh. Theo Ngài, một tu sĩ Phật giáo dùng các cách nuôi mạng khác như xem tướng số, xăm quẻ, chiêm tinh, bùa chú, thư tôm, ếm đối (thời đó rất thịnh hành) đều thuộc về tà mạng đạo, đang thực hành tà mạng, tức là đang thực hành các phương tiện để mưu sinh không chơn chánh.

Trong công phu hàm dưỡng ngang qua việc tu tập với một chiều kích sâu xa tinh tế hơn thì việc ‘khất thực’ được hướng đến sự cẩn trọng và tỉnh giác, và đẩy lùi sự khinh suất, thờ ơ. Việc khất thực trong phương diện này nuôi dưỡng một cách sống cẩn trọng tối đa sợ làm tổn thương đến môi trường mà mình đang sống, nói cách khác là làm cho bản thân mình hòa nhập thuận thảo với môi trường chung quanh. Dù rằng ‘kẻ cho’ không phải là con người mà là thiên nhiên thì người Khất sĩ cũng phải chắp tayhỏi xin trước khi thọ nhận: ‘uống hỏi xin nước, nằm hỏi xin đất, ăn hỏi xin lá trái, ở hóc hang’ [4]. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong thời đại ngày nay, thời đại mà xu hướng sản xuất và hưởng thụ vật chấtchi phối rất mạnh khiến nhịp sống càng lúc càng nhanh và phong cách sống dễ sa vào tình trạng hấp tấp, vội vàng và hời hợt.

Thay lời kết:

Khất thực của Hệ phái Khất sĩ có một nguồn gốc lịch sử lâu đời từ thời tiền Phật giáo, thời kỳ tìm đạo, tu đạothành đạo và hóa đạo của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ở Ấn Độ thời cổ đại. Ở Việt Nam vào cuối những năm 40, pháp môn này được Đức Tôn sư Minh Đăng Quang khôi phục và hành trì nghiêm túc trong suốt những năm tháng mà Ngài còn hiện diện. Ngài xem pháp môn này là cách nuôi mạng theo Chánh pháp duy nhất của một vị Tỷ kheo thanh tịnh chân chánh nguyện tu theo hạnh đầu đà hay là hạnh giải thoát xả ly.

Khất thực của Hệ phái Khất sĩ được khái quát hóa thành mối quan hệ ‘xin cho’ như đề cập ở trên. Và việc ‘xin cho’ này phát xuất từ nguyên lý chia sẻ chan hòa trong cuộc sống. Vì vậy hình ảnh của người Khất sĩ đi khất thực là một biểu trưng tốt đẹp của nguyên lý chia sẻ chan hòa về vật chất cũng như tinhthần. Nếu một xã hội hay là một cộng đồng người mà trong đó việc chia sẻ chan hòa được giáo dụcphổ cập và khích lệ, được xem là một nếp nghĩ nếp sống văn hóa, được đông đảo quần chúng chấp nhận và thực hành thì xã hội hay cộng đồng đó chắc chắn sẽ thuần hòa đạo đức hơn, mối quan hệ giữa con người và con người sẽ đầm ấm an vui hơn.

Trong hiện tình xã hội, ngày nay sự phân hóa giữa giàu và nghèo có khuynh hướng gia tăng, mức sống giữa người giàu và người nghèo ngày càng cách biệt; sự tranh giành chức tước, địa vị và quyền lợi trở nên gay gắtlối sống se sua hưởng thụ trở thành một xu hướng rất phổ biến thì hình ảnh của một người Khất sĩ đầu trần chân không nghiêm trang từng bước hóa duyên khất thực phải chăng là một đối trọng giúp cho việc trung hòa những xu thế đáng lo ngại đã nêu trên, và gợi ý một nếp sống, nếp nghĩ trung đạo thăng bằng. Rất tiếc là hình ảnh thiêng tịnh đó đang dần dần đi vào quá khứ.

Ngay chính những người con Phật xuất gia, nhứt là Tăng Ni tân học Hệ phái Khất sĩ, có vị còn không tự mình thấu hiểu hết ý nghĩa và giá trị của pháp môn khất thực để hành trì.

Trong khi đó, ngày nay có một số người không biết không hiểu gì về đạo Phật và phương pháp chân truyền về hạnh y bát khất thực, sống lang thang không nghề nghiệp, lại giả danh, mượn hình thức đi khất thực để mưu cầu lợi dưỡng cá nhân, đi khất thực không đúng pháp, không kể giờ giấc, gây ảnh hưởngtiếng xấu trong xã hội và Đạo pháp. Do vậy, từ diễn đàn này chúng tôi kính mong Giáo hội, Thành hội Phật giáo và các cơ quan chức năng sớm có những biện pháp cụ thể hướng tới hai mục đích:

1. Tạo điều kiện cho những Tăng Ni có tâm nguyện hành trì hạnh “khất thực” đúng Chánh pháp được thực hiện trong khuôn khổ giới luật và pháp luật quy định.

2. Cần có một biện pháp tích cựcthích nghi nhằm ngăn chặn những người giả dạng lợi dụng hình thứckhất thực phi pháp.

PHỤ LỤC:

Hai mươi sáu phép đi khất thực của phái Khất sĩ

1. Phép đi khất thực chỉ từ một tới hai người mà thôi trừ khi nào đến xứ lạ, một hai ngày đầu đi chung cho biết đường sá, đi từ người cách khoảng hai thước.
 
2. Khi đi lấy cơm, hoặc đi trai tăng tại nhà cư sĩ thì được đi chung, đi một hàng một, cách nhau 2 thước tây, ai lớn tuổi đạo đi trước, tập sự đi sau.
 
3. Tại tịnh xá có ban cư sĩ hộ pháp, hoặc có nhiều người xin cúng dường luân phiên giáp 30 ngày trong mỗi tháng, thì Giáo hội nếu đông chia ra: phân nửa Tăng đi khất thực, phân nửa Tăng nhận cúng dườngtrọn bữa ăn.
 
4. Tốt hơn là mỗi người hàng ngày đều phải đi bát, ban hộ pháp chỉ hộ thêm sau khi đi về.
 
5. Khi đi khất thực nếu ai về không kịp ngọ, lỡ quá trưa thì phải độ nơi chỗ vắng, gốc cây, xa đường lộ, phố xá, chợ đông. Phải tránh những chỗ dơ dáy bụi bặm, cấu trược ồn ào, vì thế sẽ làm nhẹ thể phápPhật.
 
6. Đi bát không được vô chợ, hoặc đứng phía góc chợ, hoặc chen lấn chỗ đám đông. Nên phải đi vàotrong xóm hoặc các đường lộ xa chợ.
 
7. Mỗi đường có thể đi ba ngày, đi xa không quá ba ngàn thước.
 
8. Bận đi phải đi luôn, bận về nếu thiếu thì đứng trước cửa từ nhà (ngoài đường, chớ không được vào thềm), mỗi nhà đứng năm ba phút theo thứ tự.
 
9. Khi bát còn lưng, thì ôm quá tay trái gần trước bụng, lúc đầy rồi phải để vào túi, phủ nắp lại, quảy phía tay mặt không nhận nữa.
 
10. Không nhận lãnh đồ vật để trong túi, ngoài bát, hoặc trên nắp bát.
 
11. Không được nhận tiền, gạo, không được nhận đồ ăn mặn, khi người đem đến cúng, mình có thể hỏi thêm chay hay mặn, đó là gương dạy thiện cho người.
 
12. Không được đi vào nhà ai, khi đi khất thực. Nếu phải đi viếng ai, hoặc có việc của Giáo hội sai, thì đi lại ngay nhà người ta trước, bát mang chớ không ôm, bận về mới ôm ra đi xin mà trở về.
 
13. Không được đứng lại uống nước, hay đại tiểu khi đi khất thực.
 
14. Bát nếu ôm trần thì được nhận, bát mang trong túi cấm thâu nhận.
 
15. Không được ngó mặt thí chủ, hoặc nói chuyện quá năm sáu câu.
 
16. Ai có hỏi đạo giữa đường thì kiếm gốc cây ngồi nói, hoặc hẹn sau khi độ cơm rồi sẽ nói, hoặc mời người đến ngay chỗ ngụ, hoặc để ngày khác người thỉnh cúng dường tại nhà có Tăng đông, có cư sĩnhiều sẽ nói.
 
17. Khi đi khất thực, ai muốn cúng hoặc thí gì tự ý, bao giờ người hỏi sẽ chỉ dạy, bằng không thì thôi, chớ chê khen bắt lỗi ép buộc người ta.
 
18. Nếu biết cơm có dính lỡ đồ ăn mặn, thì khi về phải cho người khác, chớ không được dùng, bằng khi túng ngặt, phải gụt rửa sạch mới được dùng.
 
19. Khi đi khất thực phải trang nghiêm hòa huỡn ngó ngay xuống, ngó xa hai thước, chớ ngó liếc hai bên, chớ tìm lóng nghe chuyện người nói, tâm phải niệm Phật.
 
20. Đừng vừa đi vừa nói chuyện, chỉ chỏ, muốn qua đường quẹo phải đứng lại xoay mình, chớ đừng đi tắt xéo.
 
21. Mỗi khi có chuyện gì thì phải đứng lại, có ai cúng thì chỉ lại người sau, cho để bát trước.
 
22. Ngày nào ai đi bát đường nào, phải sắp đặt trước tại chùa, chớ đừng ra đường lộn xộn.
 
23. Khi đi khất thực, ngoài món ăn ra, không nhận món chi ai gởi hết. Hãy bảo người ta đem lại các chùa kia. Ai nói gởi cúng Phật thì không được nhận, hãy nói: “Tăng chỉ là người tu đi xin ăn mà thôi”.
 
24. Đồ ăn rồi nếu còn dư phải cho hết, không được để dành.
 
25. Đồ khất thực trước phải độ trước. Đồ cúng dường sau phải độ sau.
 
26. Khi đi khất thực không được chống gậy, mang giày, che dù… Bên trong mặc áo chừa cánh tay mặt, đầu trần, chưn không; bên ngoài phải mặc vấn thượng y trùm kín.
[1]Nàrada: Đức Phật và Phật Pháp, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 115.


[2]Từ, Thích Thanh: Kinh Kim Cang Giảng Giải, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1999; tr. 15.
 
[3]Quang, Minh Đăng: Chơn Lý, Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1993, tr. 167.
 
[4]Quang, Minh Đăng: Chơn Lý - Luật Khất sĩ, Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 44.

Mây Lành
(Tịnh Xá Ngọc Minh Phan Thiết Bình Thuận)

Theo kết quả một cuộc khảo cứu về sức khỏemới đây của các nhà khoa học Thái cho biết có đến 45% tu sĩ Phật Giáo ở Thái Lan bị béo phì (obese), 40% bị bệnh tiểu đường và cao áp xuất máu. Khảo sát cho thấy phần lớn sư Thái Lan rất ít vận động ngoài việc ngồi thiềnđọc kinh, quét dọn và đi khất thực. Nhóm nghiên cứu đã lấy số liệu y tế của 246 nhà sư tại các ngôi chùa ở 11 tỉnh thành ở Thái Lan. [1]

Kết quả cho thấy một bức tranh ảm đạm về tình trạng sức khỏe đáng báo động của các nhà sưThái. Theo các nhà khoa học, sở dĩ bệnh béo phì và cao áp xuất máu đang “chiếu cố” các nhà sưvì họ có một chế độ ăn uống không lành mạnh với các thực phẩm giầu chất béo, chất đường và ít luyện tập thể dục hàng ngày. Các nhà sư thường nhận thức ăn khi đi khất thực vào buổi sáng và chỉ dùng một bữa trong ngày trước 12 giờ trưa. Buổi chiều tối theo giới luật, họ không ăn nhưng lại thường uống nước ngọt (sweet soft drinks) – một thói quen không tốt cho sức khỏe.

Sau cuộc khảo cứu của Tiến sĩ Pinij Larpthananon và Giáo sư Tiến sĩ Jongjit Angkatavanich của trường đại học Bangkok’s Chulalongkorn University, và Tiến sĩ Phramaha Suthit Aphakaro, Giám đốc Viện Nghiên Cứu Phật Giáo tại viện đại học Mahachulalongkornrajavidyalaya University; các viên chức y tế cấp cao Thái Lan đang lên kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục dinh dưỡng cho giới tăng sĩ, những người mỗi sáng đi khất thựcđồng thời hướng dẫn cư sĩ Phật tử nên cúng dường những thức ănlành mạnh (thực phẩm được nấu bằng rau, đậu, củ, qủa, với ít dầu và ít đường).

Tưởng cũng nên biết, Thái Lan là một quốc gia theo Phật Giáo Nguyên Thủy hay còn gọi là Phật GiáoNam TôngTăng đoàn vẫn giữ truyền thống khất thực như Tăng đoàn thời Đức PhậtPhật tử cúng dường thứ gì thì nhận thứ nấy, không phân biệt món ngon món dở, món chay hay món mặn hoặc phân biệt người cúng dường giầu hay nghèo, quý sư phải luôn giữ tâm bình đẳng. Cho nên sự việc tăng đoànthọ nhận vật thực cúng dường, dù cho có cả thịt cá, hay món ăn giầu chất béo, chất đường hoàn toàn là do cư sĩ Phật tử tự nguyện cúng dườngChư Tăng, theo đúng lời Phật dạy, không được quan tâm đến món ăn, chỉ cốt có thực phẩm để nuôi dưỡng cơ thể, hầu có đủ sức khoẻ tu hành hoàn thành đạo quả.

Ngày nay đã đổi khác, đời sống toàn thế giới đã tương đối sung túc hơn thời xưa. Các vùng sa mạc nay cũng có thể trồng được hoa mầu. Lương thực không còn thiếu thốn nữa. Thái Lan hay Việt Nam, dù nghèo, mọi người muốn cúng dường chư Tăng đều có thể thực hiện được dễ dàng vì thực phẩm rau đậu, củ quả đâu đâu cũng có, vừa tinh khiết lại nhiều chất bổ dưỡng. Điều quan trọng là người cư sĩPhật tử cần có sự hiểu biết về một chế độ dinh dưỡng tốt cho sức khỏe mà các nhà khoa học ngày nay đã thừa nhận là một chế độ dinh dưỡng không có thịt, bơ và sữa, nhiều chất xơ, không cholesterol, ít chất béo, chất đường và chất muối. 

 

Sở dĩ 45% chư Tăng Thái Lan, và cũng có thể chư Tăng ở Việt Nam bị béo phì, tiểu đường, và áp xuất máu cao là do áp dụng một chế độ ăn uống không lành mạnh như kết qủa cuộc khảo cứu cho biết. Vì thế người Phật tử tại gia có thể giữ một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của chư Tăngbằng cách chỉ cúng dường thức ăn chay cho các vị Sư khất thực và thiết đãi cúng dường trai tăng tại gia hay tại chùa bằng thực phẩm chay. Đáp lại, quý Sư dạy dỗ Phật tử nên huân tập tâm từ bi, không nên sát sanh súc vật hoặc trực tiếp hay gián tiếp và do đó không nên cúng dường các Sư thịt hay cá(chính quý Sư nói như vậy với cư sĩ Phật tử).

Với các quốc gia theo truyền thống Phật Giáo Bắc Tông (hay còn gọi là Phật Giáo Đại Thừa) như Trung Hoa và Việt Namchư Tăng ni ăn chay trường. Tuy vậy, mặc dù là ăn chay, nhưng cũng có thể có vấn đề mập phì, tiểu đường và tim mạch xảy ra, vì theo quan sát của người biên tập, phần đông các bà, các cô Phật Tử làm công quả, nấu ăn trong chùa đều muốn nấu ăn thật ngon, mà muốn thức ăn ngon phải hội đủ bốn yếu tố là nhiều dầu, đường, muối và bột ngọt (mì chính). Ngoài ra, nhiều Phật tử đem thực phẩm đến cúng dường chư Tăng ni đều là thứ ngon nhất. Trong khi đó, chư Tăng ni lại ít tập thể dục, chỉ ngồi thiền hay tụng kinh mà lại dùng các món ngon nhiều bổ dưỡng, nhiều calories, thế là dễ bị một trong các chứng bệnh của quý sư Thái Lan đã nói ở trên.

Nói tóm lại, chứng béo phì, tiểu đường và áp xuất máu cao [2] đã và đang xảy ra trong cộng đồng Phật Giáo. Dù ở Thái Lan, Việt Nam hay Hoa Kỳ, dù là Nam Tông hay Bắc Tông Phật Giáo đều có thể chếngự được nếu cả hai giới xuất gia và tại gia được hướng dẫn đầy đủ và thực hành đúng cách về dinh dưỡng như chính phủ Thái Lan đang lên kế hoạch giáo dục song hành. Điều thiết yếu là Tăng đoàn Phật giáo nên chủ đạo vấn đề này và các cư sĩ Phật tử sẽ theo gương các ngài.

 

Tâm Linh

 

Chú Thích:

[1] Theo báo Independent Anh Quốc

[2] Ăn chay để ngăn ngừa bệnh tim và tiểu đường, theo các nhà khoa học Hoa Kỳ cho biết là phải thật ít chất béo, nhiều chất xơ, không cholesterol và nhiều carbo phức hợp (unrefined complex carbohydrate) . Theo bác sĩ Monroe Rosenthal, M.D., Giám đốc Y Khoa chương trình Pritikin Program ở Santa Monica bang California Hoa Kỳ cho biết: "chất béo là nguyên nhân chánh của bệnh tiểu đường, càng nhiều chất béo trong chế độ dinh dưỡng càng làm khó khăn cho insulin đưa đường vào trong tế bào. Insulin hoạt động dễ dàng trong điều kiện ít chất béo." Quý bà khi nấu ăn thường dùng quá nhiều bột ngọt, đường, muối, thực phẩm chay biến chế và các thực phẩm tinh lọc, nhất là dùng quá nhiều dầu để chiên xào. Mặc dầu dầu thảo mộc không có chất cholesterol nhưng có lượng cao chất béo không bão hoà và khi chiên nhiều lần, có độ nóng lâu, dầu không bão hòa sẽ trở thành loại dầu có đặc tính giống như bão hòa mà người ta gọi là trans-fatty acids. Chất béo bão hòa (saturated fat) và trans-fatty acids là những chất béo không tốt, làm gia tăng chất cholesterol xấu LDL và đồng thời làm giảm cholesterol tốt HDL trong máu, do đó gia tăng mức nguy hiểm về bệnh tim mạch và đồng thời cũng làm cho chất insulin giảm hiệu năng hộ tống chất đường vào trong các tế bào.

Tại sao nhiều người ăn chay lại quay lại ăn thịt? Các nhà dinh dưỡng tiết lộ rằng nhiều người cảm thấy mệt mỏi và tăng cân do ăn đồ chay giả thịt.

Chủ nghĩa ăn chay đã bùng nổ trong vài năm qua với hàng triệu người tham gia, quyết định tìm cách cắt giảm các sản phẩm từ động vật vì lý do sức khỏe. Chế độ ăn thuần chay chỉ dựa trên các thực phẩm từ thực vật và không ít người tin rằng mình sẽ duy trì như vậy cho đến suốt đời nhằm duy trì huyết áp khỏe mạnh và tránh nguy cơ béo phì.
 
Chế độ ăn thuần chay cắt bỏ hoàn toàn các sản phẩm động vật, bao gồm thịt, trứng, pho mát và sữa...Chế độ ăn uống này đã được chứng minh rằng nếu được thực hiện đúng có thể đem lại lợi ích là giảm lượng chất béo bão hòa, cholesterol và lượng đường tiêu thụ của cơ thể. Điều này không chỉ sẽ rút ngắn vòng eo, mà còn làm giảm nguy cơ mắc các vấn đề về tim mạch và thận.
                                                     Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Xuất phát từ nhu cầu này, không ít công ty chế biến thực phẩm đã sản xuất ra các sản phẩm thay thế thịt động vật từ chính thực phẩm thực vật (thịt giả). Thế nhưng, đồ ăn chay giả thịt có tác dụng phụ tiêu cực là khiến người ăn mệt mỏi và đầy hơi. Có khoảng 2.500 khiếu nại cho rằng thực phẩm chay có thể gây phản ứng phụ như buồn nôn và dị ứng.
 
Các chuyên gia y tế là Maria Bella (người sáng lập của Top Balance Nutrition ở NYC) và Nikki Ostrower (chuyên gia dinh dưỡng của NAO Wellness) phát hiện ra rằng ngày càng nhiều người đã từ bỏ chế độ ăn thuần chay này và ăn thịt trở lại. Nguyên do là vì những phản ứng tiêu cực mà họ gặp phải khi ăn thuần chay, bao gồm mệt mỏi, đầy hơi, bị thiếu năng lượng và tăng cân.
 
Maria Bella là một nhà dinh dưỡng. Khi quyết định ăn thuần chay lần đầu tiên, cô đã nghĩ rằng mình sẽ bỏ xa các sản phẩm từ động vật. Nhưng đến một ngày, cô nhận ra rằng chế độ ăn kiêng mà mình đang theo đuổi không cung cấp cho cơ thể những thức ăn lành mạnh cần thiết.
Chuyên gia dinh dưỡng Maria Bella (trái) và chuyên gia dinh dưỡng Nikki Ostrower (bên phải) đưa ra lời khuyên cần chú ý khi ăn chay. Chuyên gia dinh dưỡng Maria Bella bỏ ăn chay sau 2 năm vì cô cảm thấy mình ăn quá nhiều thực phẩm chay giả thịt.
 
Theo Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ, MSG là một chất tăng hương vị được thêm vào thực phẩm và các loại thịt chế biến sẵn. Những loại đồ ăn chay giả thịt thường được cho quá nhiều muối, dẫn đến huyết áp cao, các bệnh tim mạch và tăng cân.
 
Các đồ ăn chay chế biến giả thịt thường có chứa nhiều bột ngọt (MSG) và thậm chí cả nấm mốc, có thể gây tổn hại cho sức khỏe. Nhiều bệnh nhân còn bị dị ứng, phản ứng phụ như buồn nôn, tiêu chảy và thậm chí đe dọa đến tính mạng. Chuyên gia dinh dưỡng Maria Bella và chuyên gia dinh dưỡng Nikki Ostrower khuyến cáo bệnh nhân nên bỏ kiểu ăn chay vì cảm thấy đồ ăn chay không lành mạnh cho sức khỏe.
                                              Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Đồ chay chế biến sẵn có thể khiến cơ thể cạn kiệt các khoáng chất và chất dinh dưỡng khác. Ostrower đã khảo sát một số khách hàng bỏ chế độ ăn chay để ăn những đồ dinh dưỡng thông thường. "Một số người thiếu năng lượng, bắt đầu có dấu hiệu thèm đồ ngọt. Một số bị đau nửa đầu”. Đây có thể là một dấu hiệu cho thấy rằng thực phẩm bạn ăn là không phù hợp. Carbohydrate và các sản phẩm đậu nành chế biến trong các sản phẩm giả thịt có thể không chỉ gây phản ứng bất lợi mà còn làm giảm các chất dinh dưỡng quan trọng trong cơ thể.
 
Ông Ostrower nói: "Chúng có thể khiến cho cơ thể bị cạn kiệt các khoáng chất và chất dinh dưỡng vi mô, bao gồm magiê và amino axit. Trong khi đó, các axit amin là những chất cần thiết cho protein". Thịt nạc, cá, trứng và sữa rất giàu axit amin, vì vậy những người ăn chay thường chuyển sang các sản phẩm giả thịt để có được chất đạm đó. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không phải tất cả các sản phẩm trên thị trường có thể cung cấp sự thay thế lành mạnh mà mọi người cần.
 
Chuyên gia dinh dưỡng Bella còn khuyên, nếu ăn chay, mọi người cố gắng ăn nhiều thực phẩm tươi và tránh các loại thực phẩm chế biến và đóng gói sẵn dưới bất kỳ hình thức nào. Đồ chay chế biến sẵn có thể khiến cơ thể cạn kiệt các khoáng chất và chất dinh dưỡng khác.
 
Theo Dailymail
Thứ bảy, 04 Tháng 11 2017 00:00

Thông báo hoạt động website Chuaongte.com

Chùa Ông Tề - Nay là gọi là Thiên Vân Cổ Tự

Xin thông báo đến quý phật tử chính thức hoạt động website với tên miền www.chuaongte.com, nhằm mục đích tuyên truyền và thông báo đến thông tin hoạt động của chùa và giới Phật Giáo.

Mọi chi tiết liên hệ:

Thầy - Thích Thiện Anh

Địa chỉ: 1/135 Nguyễn Văn Quá, P. Đông Hưng Thuận, Q.12 TP.HCM Việt Nam
Điện thoại: 0933.467.179
Email:
 
 
 
 

Trong nhiều trường hợp, một người tự xưng là Phật tử chỉ khác người không phải là Phật tử ở chỗ khi nào trong nhà có người chết thì rước một vị Sư áo vàng tới làm lễ tang. Ngoài rasuốt đời không hề tìm hiểu đạo Phật nghĩa là gì, không hề tìm hiểu coi đạo Phật có điều gì khác với các đạo khác, không hề biết đến giáo lý nhà Phật, không hề biết đến chùa chiền, ngoại trừ mỗi khi có công việc gì cần cầu xin, thí dụ cầu ancầu tài lộc, cầu cho con thi đậu, cầu buôn may bán đắt.. vân vân, thì đem nải chuối đến chùa năn nỉ với Phật. Hoặc ngày Tết thì mới lên chùa, nhưng không phải là lên chùa với mục tiêu cúng dường Tam Bảo để tự huấn luyện cho bản thân mở được cánh của Bố Thí buông xả trong tâm bằng cách cúng dường vào chùa chút tịnh tài để nhà chùa có phương tiện in ấn kinh sách, duy trì Phật đườnghoằng dương Chánh Pháp, mà là lên chùa chỉ để xin xăm và hái lộc, hai việc đó thì cũng rất vui, tuy nhiên, hái lộc chỉ cần một chồi nhỏ, nhưng có người lại bưng cả một "chậu hoa lộc" về, như thế là phạm vào một trong ba tật độc hại mà Phật tửcần trừ là tật Tham.

Vậy thì thế nào là một Phật tử đúng nghĩa?

Trước nhất, chúng tôi xin trình bày vài khái niệm mặt lý thuyết.

Đạo Phật là đạo Giác Ngộ. Từ vô thủychúng ta vì một niệm mê mờ bất giác mà trôi lăn vào biển sanh tử, trồi lên ngụp xuống, tới nay đã bao nhiêu đời kiếp rồi mà không biết đường ra.

Nhờ có đức Phật tu hànhGiác Ngộ được Bản Tánh Chân Thật, lại mở lòng từ bi, dạy chúng ta đường lối tu hànhchuyển mê khai ngộ, biết đường trở về nguồn Tâm, để có thể trở lại được Bản Tánh Chân Thật sẵn có của chính mình, nên Ngài mới sáng lập ra đạo Phật.

Trên con đường tu hành để Chuyển Mê Khai Ngộtrở về Bản Thể Chân Tâm, người Phật tử phải từng bước chuyển hóa vọng tâmchuyển hóa từ Tham Sân Si trở thành Giới Định Huệ.

Vì thế, Phật chế ra Giới để người Phật tử nương theo, từ sự giữ Giớigiảm bớt mê say dục lạctâm hồn dần dần trở nên trong sáng, ứng xử trong đời sống có sự từ tốn, cảm thông với người, với vật, có sự bình tĩnh, có Định lựctâm trínhờ thế mà sáng suốt để tiến bước trên con đường Giác Ngộ.

Vì đạo Phật chủ yếu là tự nguyện chuyển tâm nên không có sự áp đặt, lôi cuốn. Người từ đạo khác chuyển qua đạo Phật thường là do nghiên cứu kinh điển, hiểu được cái tinh hoa thâm thúy của đạo Phật mà quay về đường Giác.

Người Phật tử đúng nghĩa là người có tham dự một lễ truyền thọ Tam Quy là Quy y PhậtQuy Y Pháp và Quy Y Tăng, gọi là Quy Y Tam Bảo, nhận Tam Bảo là Thầy. Sau lễ quy y, người Phật tử được thầy truyền thọ Tam Quyđặt cho một pháp danhPháp danh này là biểu tượng chính thức của người Phật tử, nói lên sự chấp nhậnnương tựa vào Tam Bảo về mặt tinh thần.

Chỉ khi nào đã quy y Tam Bảo thì mới có pháp danh, là tên trong đạo Phậtthí dụ Diệu TâmTuệ MinhThiện Đạo,vân vân... Không quy y mà tự mình đặt pháp danh hoặc có ông thầy nào cao hứng tự ý tặng cho người quen biết cáipháp danh dù người đó không hề quy y Tam bảo thì hành động đó là sai trái, là không đúng giới luật của đạo Phật.

Quy y như thế có nghĩa là chấp nhận sự hướng dẫn của Phật BảoPháp Bảo và Tăng BảoPhật Bảo là chư Phật, Pháp Bảo là giáo phápcụ thể là Tam Tạng Kinh ĐiểnTăng Bảo là chư Tăng Ni tu hành thanh tịnh, hiện đang đại diện Chư Hiền Thánh Tăng để hướng dẫn Phật tử trên con đường đến bờ Giác.

Khi quy y Tam Bảo là chúng ta quy y Chư Phật, Chư Pháp và Chư TăngChư Tăng là "tất cả các Tăng". Cho nên đãquy y Thầy A rồi, khi thấy Thầy B danh tiếng lừng lẫy hơn, bằng cấp cao hơn, ta lại quy y thêm Thầy B là dư thừa, vì khi quy y Thầy A, ta đã đồng thời quy y Thầy B.

Có người nói rằng :" Tôi chỉ quy y "Nhị Bảo" là Phật và Pháp thôi, còn Tăng thì cũng như tôi, không cần quy y". Nghĩ như thế là sai lầm. Tăng hiện đang sống, đứng trước mặt chúng ta là phàm tăng. Nhưng các vị ấy đại diện tất cả Tăng Bảo của ba thời là quá khứhiện tại và vị laiChúng ta quy y như thế là quy y tất cả Chư Hiền Thánh Tăng của ba thời do các phàm tăng đại diện.

Ngoài raQuy Y Tam Bảo còn có một nghĩa cốt tủy, rốt ráo, mà Lục Tổ Huệ Năng đã giảng trong cuốn Pháp Bảo Đàn Kinhchúng tôi xin lược trích sau đây:

Lục Tổ nói:

"Nay ta vì thiện tri thức truyền Vô tướng Tam Quy Y Giới. Khuyên các thiện tri thức, nên Quy Y Tự Tánh Tam Bảo: Phật tức là Giác, Pháp tức là Chánh, Tăng tức là Tịnh.

Tự tâm quy y Giác thì tà mê chẳng sanh, thiểu dục tri túc, hay lià tài sắc, gọi là Lưỡng Túc Tôn.

Tự tâm quy y Chánh, niệm niệm chẳng tà kiến, vì chẳng tà kiến nên chẳng có nhơn ngã, cống caotham áichấp trước, gọi là Ly Dục Tôn.

Tự tâm quy y Tịnh, tự tánh đối với tất cả cảnh giới trần lao ái dục đều chẳng nhiễm trước, gọi là Chúng Trung Tôn.

Nếu tu hạnh này là Tự Quy Y.

Nay đã tự ngộ, mỗi mỗi đều phải quy y Tự Tánh Tam Bảo, bên trong tự sửa tâm tánh, bên ngoài kính mến mọi người, tức là Tự Quy Y vậy.

Thiện tri thứcxưa nay tam thân Phật ở trong Tự Tánh mọi người đều sẵn có, tại tâm mê nên chẳng thấy Tánh bên trong, chỉ hướng ra ngoài tìm tam thân Phật mà chẳng thấy tự thân có tam thân Phật."

Thưa quý thính giả,

Ngoài Quy Y Tam Bảo, mỗi người Phật tử cũng cần phải biết và cố gắng tiến tới thọ từ một tới cả Năm Giới của nhà Phật, đó là:

-- Không sát sinh
-- Không trộm cắp 
-- Không tà dâm 
-- Không uống rượu và các chất say sưa 
-- Không nói dối, nói vu cáo, nói thêm bớt thêu dệt, nói lời xấu ác.

Để quý thính giả thấy được tầm quan trọng của sự giữ giới trong đạo Phậtchúng tôi xin lược trích bài Luận Về Thọ Giới trong cuốn Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tôn, như sau:

"Tịnh giới tiếng Phạn gọi là Ba La Đề Mộc XoaSở dĩ chư Phật ba đời được thành đạo không vượt ngoài giới. Cho nênhiện tại Bồ tát lấy Giới mà độ sanhvị lai người tu hành do Giới mà giải thoát.

Kinh nói: "Giới như đất bằng, muôn điều lành từ đó sanh. Giới như thuốc hay, chữa lành các bệnh. Giới như hòn ngọc sáng, hay phá mờ tăm tối. Giới như chiếc thuyền, hay đưa người qua biển. Giới như chuỗi anh lạctrang nghiêm pháp thân".

Người có tội phải sám hốinếu không sám hối thì tội càng sâu. Một phen mất thân này, muôn kiếp chẳng được lại. Ngày nay tuy an, sáng mai khó bảo đảm. Nên giữ Giới pháp này, chóng qua sanh tửThờ Phật làm thầy, trước phải y theoGiới luậtCổ Đức nói: "Qua sông phải dùng bè, đến bờ chẳng cần thuyền". Đây là cổ nhân dùng Giới luật làm thuyền bè. Song người nay chẳng dùng thuyền bè qua sông, mà được đến bờ kia, thật ít thay! "

Thưa quý thính giả,

Vì đạo Phật là đạo chuyển tâm, hứa thọ giới thì phải giữ lời hứa, cho nên nhà Phật không áp đặt vào các em còn nhỏ tuổi, chưa đủ trí khôn để nhận thức được tầm quan trọng của lời hứa, mà người thọ Giới phải đủ trưởng thành, đã biếtsuy nghĩ chín chắn, thì mới có thể giữ Giới mà không vi phạm.

 

Trong Năm Giới kể trên, Giới Vọng Ngữ là dễ phạm nhất. Chúng tôi xin lược trích lời dạy của vua Trần Thái Tôn về Giới này như sau:

 

"Tâm là gốc thiện ác, miệng là cửa họa phúc. Nghĩ một niệm thì hưởng ứng chẳng sai; nói một lời thì bóng theo chẳng lệch. Quân tử trọng lời; cổ nhân ngừa nói. Nói ra thì ngay thẳng công bằng; mở lời không cong queo tà vạy. Không nói đây kia hay dở, chẳng bàn mình phải người sai. Đâu dám khua môi múa lưỡi, cần phải giữ miệng gìn lời. Vả nghiệp của thân là nặng, song họa của miệng là trước. Chẳng những kẻ nói là vọng ngôn, còn khiến người nghe làm bậy. Đời này bị người khinh rẻ, sau khi chết bị nghiệp kéo lôi. Hoặc kềm sắt, kéo lưỡi cam chịu chua cay. Hoặc nước đồng sôi rót vào miệng ôm lòng đau đớn.”

 

Thưa quý thính giả,

 

Cư sĩ Hoàng Liên Tâm bàn về vấn đề Họa Tòng Khẩu Xuất (tai họa từ miệng mà ra), đăng trong Thư Viện Hoa Senkhoảng mấy năm trước, như sau:

 

"Do một bản tin ngắn dựa trên các tin đồn được báo chí Cambodia loan tải đã làm cho một đám đông khoảng 500 người Căm Bốt nổi giận đốt cháy toà đại sứ Thái Lan tại Thủ đô Phnom Penth, gây thiệt mạng cho một người Thái Lan, bảy người khác bị thương, ông Đại Sứ phải leo rào thoát chạy ngả sau và làm căng thẳng mối bang giao giữa hai quốc giaThái Lan và Cambodia.

 

Trước đây không lâu, cũng do một bài báo loan tải trên nhật báo Ngày Nay (Thisday) ở Nigeria đã châm ngòi cho cuộcbạo động giữa người Hồi giáo và người Thiên Chúa giáo, làm 215 người thiệt mạng và hơn 1000 người bị thương. Phía người Hồi giáo cho rằng bài báo đã xúc phạm đến họ khi nói rằng ngài Mohammad sẽ chọn được vợ trong số các người đẹp tới tham dự cuộc thi hoa hậu thế giới Miss World tại nơi đây. Cuộc thi hoa hậu phải di chuyển sang Anh Quốc, banbiên tập tờ báo đã phải xin lỗi, tờ báo bị đóng cửa, và ký giả bài báo đã bị kết án tử hình để rồi phải lẩn trốn ra nước ngoài tránh bị thọ án.

 

Chỉ một bản tin viết không đúng sự thật làm cháy nhà, chết người và ảnh hưởng đến bang giao giữa hai xứ. Chỉ một câu nói, đáng lẽ không nên nói đã gây bao tang tóc, làm hàng trăm người chết và hàng ngàn người bị thươngQuả thật là bút máu, là hoạ tùng khẩu xuất như người xưa thường nói.

 

Tâm ý của con người được diễn tả bằng lời nói hay bằng cách viết trên giấy hoặc gõ trên key board máy vi tính, tuy không phải là lưỡi kiếm, lưỡi dao, tên bắn, hay viên đạn, nhưng nó nguy hiểm vô cùng vì nếu không biết lựa lời mà nói, lựa chữ mà dùng thì nó có thể gây tang tóc cho nhiều gia đình, làm bại hoại xã hội và đồng thời tác hại lại chính người nói như hai sự kiện đã nêu trên. 

Ngày xưa, ở bên Tầu, có một nhà thơ nổi tiếng được một vị quan Tổng Đốc tham ô khen ngợi nên nhà thơ đã dùng ngòi bút của mình làm thơ ca ngợi đức độ của ông ấy. Những bài thơ đã được khắc vào bia đá trong làng. Nhờ vậy, vị quanđã tránh được cuộc thanh tra của viên Khâm sai triều đình, do đơn tố cáo của dân.

 

Sau khi viên thanh tra trở về kinh đô, quan Tổng Đốc ra lệnh bắt giết tất cả những người đã tố cáo ông tham nhũng, hà hiếp dân lành. Do vì lời khen ngợi, tán thán không chân thật về quan Tổng đốc, nên đã mang tang tóc đến nhiều gia đình và tự mang nghiệp vào mình.

 

Ngày nay cũng vậy, nhiều người cũng vì danh lợi, cũng vì muốn được người ta khen nên thường ca ngợi lẫn nhau, đâu có biết rằng nếu không có trí tuệ sáng suốt thì ngòi bút của mình sẽ gieo rắc sai lầm cho nhiều người và có thể cho cả những thế hệ mai sau.

 

Đối với tôn giáoảnh hưởng có thể còn nhiều hơn nữa. Thí dụ một người tự cho mình là Thánh, là Phật rồi được những người khác thiếu hiểu biết tâng bốc, xưng tán, khen ngợi, và cứ như thế lộng giả thành chân và người đó tưởng mình làThánh nhân thật, nên dù nói ra những lời sai với chân lý, người nghe vẫn tin theo. Thế là cùng nhau lạc vào con đườngtà mà không hay biết. Cho nên người khen và người được khen đều cùng nhau tác nghiệp và chắc chắn không nhân nào mà không sanh ra quả. Chỉ còn chờ duyên với thời gian thôi. Trường hợp của ký giả tờ báo xứ Cambodia và tờ Ngày Nay (Thisday) ở Nigeria chỉ tác hại đến việc giết hại một số người, đem tang tóc đến cho một số gia đình, nhưng ở những trường hợp khác, ngòi bút, nếu không dùng những lời chân thật, có thể dẫn dắt con người đi ngược lại chân lýcủa từ bi trí tuệgieo rắc ác tâm cho bao nhiêu người qua nhiều thế hệ mới là những nguy hiểm gấp trăm ngàn lần.

 

Trong kho tàng chuyện cổ Phật Giáo có câu chuyện ngắn về một con rùa và hai con cò trắng. Chuyện kể rằng: Thưở xưa, ở trong một cái hồ kia có một con rùa và hai con cò trắng thường lui tới làm bạn với nhau. Năm nọ trời bị hạn hán, không có một cơn mưa nào cả. Nước trong hồ cạn dần và nhiều loài cá bị chết. Chàng rùa rất sợ chết, muốn đi nơi khácnhưng không biết nơi đâu có ao hồ, bèn hội ý với hai bạn cò trắng. Hai vợ chồng cò trắng cho chàng rùa biết cách khoảng hơn trăm dặm có một hồ sen lớn không bao giờ cạn nước, có thể di tản đến đó được nhưng phải can đảm vàbình tĩnh. Vợ chồng cò trắng nói: "Chúng tôi mỗi người ngậm một đầu cây còn bác phải ngậm chặng giữa cây, chúng tôisẽ tha bác đến hồ kia, nhưng lúc ngậm cây, bác cẩn thận chớ nói chuyện" . Chàng rùa vâng lời, ngậm chặt khúc cây, hai con cò tha chú rùa bay ngang qua xóm làng. Lũ trẻ con trông thấy reo hò: "Hai con cò tha một con rùa" . Rồi có đứa la lớn lên: "A ha thật giống hai thằng câm dắt một thằng thầy bói mù!" Chàng rùa tức giận, không kềm giữ miệng được, muốn nói: "Có mắc mớ gì bay, mặc kệ chúng tao, đồ nhãi con." Tội nghiệp thay, vửa mở miệng, chàng rùa đã bị rơi xuống đất chết.

 

Đức Phật nhân đây nói bài kệ:

 

Con người ở thế gian 
Búa bén nằm trong miệng 
Sở dĩ chém thân mình 
Là do lời nói ác.

 

Điều đáng chê lại khen 
Điều đáng khen lại chê 
Là tự chuốc tai hoạ 
Không có chút gì vui. 
(Ngũ phần luật quyển 25)

 

Đạo Phật là đạo tôn trọng sự thật, vì thế mà một trong năm giới của Phật tử là "Không Được Nói Sai Sự Thật". Nói dối, nói lời thêu dệt, nói hai lưỡi và nói những lời hung ác; ngay cả nói những lời khen không đúng sự thật, những lời để mưu cầu tài lợi, danh vọng và sự kính phục, những lời gây chia rẽ căm thù cho đến những văn chương bóng bảy làm cho người đọc phải loạn tâm, sinh phiền não, người được khen sinh tự mãn, đều thuộcphạm vi giới cấm này.

 

Xét kỹ mọi việc rắc rối lôi thôi ở đời chỉ từ cửa miệng mà ra. Ngàn tai ương, muôn tội lỗi xảy ra cho người và cho mình đều do lời nói sai sự thật. Còn nếu dùng lời chân thật, lời hiền lành, lời hoà ái sẽ mang lại an lạc hạnh phúc cho mình, cho người. Cả hai đều lợi lạc và an vui. Nhà Phật rất coi trọng sự chân thành, nói năng thành thật là một trong Bát Chánh Đạo."

Ban Biên Tập TVHS

Chùa Ông Tề - Thiên Vân Cổ Tự

Địa chỉ: 1/135 Nguyễn Văn Quá, P. Đông Hưng Thuận, Q.12 TP.HCM               

Điện thoại: 0933.467.179 (Sư Thầy. Thích Thiện Anh)

Email: info@chuaongte.com

Website: www.chuaongte.com

"Giáo lý nhà Phật từ thấp tới cao, từ đạo làm người cho đến đạo hiền Thánh

đều dựa trên nền tảng của nhân quả, vì vậy trong cuộc sống của chúng ta ai

không thấu hiểu lý nhân quả thì sự tu hành của mình khó mà đạt được kết

quả viên mãn"